Sep 19, 2013

Posted by in Giáo điển, Trang chủ | 1 Comment

Bài 14: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Tiếp cận trí huệ Bát nhã trong thiền quán Bổn tôn)

Bài 14: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI  (Tiếp cận trí huệ Bát nhã trong thiền quán Bổn tôn)

Bài 14: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI  (Tiếp cận trí huệ Bát nhã trong thiền quán Bổn tôn)

Trong loạt bài “Giáo pháp đúng, phương pháp sai” từ 1- 10, trội lên tính “Xả ly” về những tu pháp đã nêu nhằm tránh tình trạng “giáo pháp đúng, phương pháp sai”. Những quan kiến trình bày từ bài 11-13 nổi bật yếu tính “Bồ đề tâm” (“Chub sem” là Tạng ngữ, “Bodhicitta” là Phạn ngữ) với những luận giải về mô thức hoạt động tâm linh tương ưng. Tuy vậy, vẫn chưa trọn vẹn, chưa toàn diện nếu thiếu một yếu tính giác ngộ tối quan trọng: TRÍ HUỆ (còn gọi là Trí tuệ).

Cần hiểu rằng trí huệ cũng có những tầng bậc khác nhau. Tu sĩ ngoại đạo cũng có trí huệ nhưng đó là trí huệ thế gian. Bao nhiêu đạo pháp chính thống là bấy nhiêu trí huệ nhưng đều rơi vào 2 cực đoan: (1) chấp thường (2) chấp đoạn. Riêng đạo Phật phá bỏ 2 biên kiến này, đi vào con đường Trung đạo xuất thế gian, gọi là TRÍ HUỆ BÁT NHÃ.

Đạo Phật phá bỏ 2 biên kiến này, đi vào con đường Trung đạo xuất thế gian, gọi là TRÍ HUỆ BÁT NHÃ.

Đức Phật từng khẳng trong kinh “Bát đại nhân giác” (Tám nguyên nhân tối thượng để giác ngộ) là “Duy tuệ thị nghiệp”, có nghĩa là trí tuệ mới là đạo nghiệp của người tu Phật. Trí tuệ Bát nhã lộ xuất mô thức tu pháp tận diệt gốc rễ vô minh, đạt đến cứu cánh Niết Bàn. Do vậy, Quán Âm Bồ tát tuyên thuyết: “Chư Phật ba đời cũng y vào Trí huệ Bát nhã Ba la mật đa mà thành tựu Chánh đẳng Chánh giác”.

Thế nào là trí huệ bát nhã, tu pháp nào để tiếp cận? Viết đến đây tôi nhớ lại một câu chuyện trong giai thoại thiền. Một hôm nhà sư trẻ ngồi đăm chiêu ở bìa rừng để quán đề mục Đất. Sự tinh tấn của sư khiến cho Thiên Đế ngưỡng mộ, nên hiện xuống đảnh lễ và thỉnh cầu: “Sư còn trẻ mà chí nguyện kiên cường, hãy cho tôi biết, ngài đang cần gì để tôi giúp đở vì tôi là có nhiều thần thông cõi trời! Ngài cần tăng phòng, tinh xá, thức ăn, đồ uống tuyệt hảo, tôi xin hoan hỷ cúng dường”. Vị sư trẻ lắc đầu mà rằng: “Tôi cần một thứ mà ngài không thể cúng dường được dù là thần thông quảng đại!”. Thiên đế ngạc nhiên và yêu cầu nhà sư cho biết. Sư mĩm cười từ tốn: “Cái tôi cần nhất là trí tuệ Bát nhã, ngài có thể cúng dường không?”. Vị vua trời Tam thập tam (Thiên đế) vội bay về trời, không dám bàn luận thêm…

Nền tảng của trí huệ là chánh kiến. Chánh kiến có 4 khía cạnh tư duy:

1/ Chánh kiến trong thờ tự  (Quy y Phật không thờ Thiên, Thần, Quỷ, Vật).

2/ Chánh kiến về tôn kính (Thờ những bậc đáng thờ, Kính những người đáng kính).

2/ Chánh kiến về tôn kính (Thờ những bậc đáng thờ, Kính những người đáng kính).

3/ Chánh kiến về luận điểm, tức là luận giải phải có nền tảng luận cứ Phật gia như “ Tứ niệm xứ” (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã), “tứ pháp ấn” ( chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, thọ thị bất tịnh, Niết bàn tịch tĩnh), “tứ y cứ” (y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y kinh liễu nghĩa …)

4/ Chánh kiến về giải thoát, tức là hiểu biết thấu đáo về những gì là khổ, vì sao phải khổ, cảnh giới thoát khổ, phương thức diệt khổ (Tứ diệu đế).

4/ Chánh kiến về giải thoát, tức là hiểu biết thấu đáo về những gì là khổ, vì sao phải khổ, cảnh giới thoát khổ, phương thức diệt khổ (Tứ diệu đế).

Người tu đầy đủ chánh kiến sẽ dần dần đạt đến trí huệ theo từng tầng bậc khác nhau. Người tu không có chánh kiến xem như xây nhà trên cát. Đây là nguyên nhân chủ yếu vì sao tu lâu năm mà vẫn như mới bước vào cổng đạo, chẳng hiểu gì về giáo điển, giáo pháp. Thí dụ: Tin Phật là đấng toàn giác, tối thượng mà vẫn cầu viện Quỷ, Thần, Tiên, Thiên. Hiểu được “thất thánh tài” là giá trị cao quý mà vẫn khệ nệ rinh ông Thần tài về thờ cúng, rồi xảo biện rằng “Có thực mới vực được đạo”! Đây là trường hợp gọi là “phước họa song tu”, chứ không phải “phước huệ song tu”.

“phước họa song tu”

Trí tuệ Bát nhã được mô thức hóa gọi là “Tánh Không”, có nghĩa là không có tự tánh trong mọi hiện tượng, sự vật, con người. Có thể tóm gọn yếu nghĩa như sau: (1) không trường tồn (sẽ bị hủy diệt) (2) không tự nhiên có ( do duyên khởi mà lập thành) (3)  không tự độc lập (phụ thuộc lẫn nhau). Quán niệm 3 yếu tính ấy gọi là quán niệm Tánh Không. Tánh Không gồm 16 đề mục để quán chiếu, gọi là thiền quán Tánh Không.

Tánh không là cốt lõi thực sự đối với người tu muốn diệt khổ. Những tu pháp liên quan đến Tánh Không người ta gọi là tu huệ, những gì không liên quan đến Tánh Không gọi là tu phước. Trên thực tế tâm linh, đạo Phật bao hàm cả hai gọi là “phước huệ song tu”. Thực chất phải dùng đúng cụm từ là “đức huệ song tu” mới chính xác. Bởi lẽ ai cũng có thể làm phước, và nhiều đạo làm phước, cho đến nỗi người ta gọi nữ tu Công giáo là Dì Phước! Song, không phải ai cũng có thể tu đức, tức là tích tập công đức vốn là sự nỗ lực tâm linh của tu pháp hẳn hoi trong đạo Phật

Khi hành giả đạo Phật giữ giới, trang bị đầy đủ chánh kiến, làm theo chánh kiến (lý sự viên dung) sẽ tích tập công đức nhanh chóng. Tuy nhiên, để quán niệm tánh không, chẳng phải đơn giản chút nào vì có đến 16 đề mục tánh không. May mắn cho người tu chúng ta là trong Mật thừa có pháp tu tiếp cận trí huệ tánh không dễ dàng mà không cần dụng công quá sức. Mô thức tâm linh này được gọi là “Quán tưởng Bổn tôn”, sau đây là luận giải:

Quán tưởng Bổn tôn nên hiểu đơn giản là chiêm ngưỡng thánh tướng  bất kỳ vị Phật, Bồ tát nào mà hành giả được chọn, có thể là ảnh, tượng vật thể bên ngoài, hoặc linh ảnh trong tâm trí ( Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Sư Lợi, Kim Cang Tát Đỏa). Ở Mật gia Song Nguyễn theo Pháp hệ Quán Thế Âm nên quán tưởng Bổn tôn là Quán Âm Tứ Thủ.

Bổn tôn Quán Âm Tứ Thủ

Bổn tôn tuy là ảnh, tượng vật thể nhưng là biểu trưng cho tánh không. Do vậy, chiêm ngưỡng thánh tướng Bổn tôn (thiền quán Bổn tôn bên ngoài) tức là tiếp cận tánh không bằng tu pháp đơn giản như vậy. Đây gọi là chỉ quán song hành! Muốn tìm hiểu chi tiết, mời quý bạn đọc xem sách “Một đời người một câu thần chú”, hoặc bài “Hưng vận tâm thức” trong trang mạng Chanhtuduy.com này! Ban đầu hành giả quán tưởng bằng nhục nhãn, về sau khi trình độ tâm trí và lòng sùng mộ đủ đầy, có thể quán tưởng Bổn tôn bằng tâm trí ( tâm nhãn).

Thầy hướng dẫn chiêm ngưỡng thánh tướng Bổn tôn

Tuy nhiên, đừng nghĩ rằng thiền quán Bổn tôn chỉ là phương diện tích lũy trí huệ. Ngược lại, đây là tu pháp tích lũy công đức vô lượng. Kinh “Ấn phát triển năng lực của lòng sùng mộ” xác quyết rằng một lần chiêm ngưỡng thánh tướng Bổn tôn Quán Âm Bồ Tát,  bằng công đức cúng dường vật phẩm linh thánh chất đầy tam thiên đại thiên thế giới, lên 1000 vị thánh tăng trong suốt 100 kiếp.

Do vậy, chúng ta có thể kết luận rằng chiêm ngưỡng thánh tướng Bổn tôn là cùng một lúc tích luỹ được cả hai bồ tư lương về cảnh Phật là CÔNG ĐỨC VÀ TRÍ TUỆ. Đây là lời giải thích vì sao Mật thừa có tốc độ tiến tu nhanh hơn Hiển giáo Đại thừa cả MỘT A TĂNG KỲ KIẾP. Tuy nhiên, ở thiền pháp này cần ghi nhớ CHIÊM NGƯỠNG THÁNH TƯỚNG BỔN TÔN VỚI LÒNG SÙNG MỘ. Nếu thiếu hoặc chưa đủ lòng sùng mộ thì kết quả sẽ hạn cuộc, tựa như hạt giống Chân như tuyệt hảo nhưng mãnh đất tâm linh của hành giả cằn cỗi lòng sùng mộ, sẽ chẳng thu hoạch được nhiều.

CHIÊM NGƯỠNG THÁNH TƯỚNG BỔN TÔN VỚI LÒNG SÙNG MỘ.

Làm sao để phát triển năng lượng của lòng sùng mộ để khỏi rơi vào trường hợp Giáo pháp đúng, phương pháp sai. Hẹn bài 15 sẽ tiếp tục!

Làng Phước Thành ngày 219/09/2013

THINLEY-NGUYÊN THÀNH

 

 

Cùng chủ đề:

Bài 1: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI ( Năm luận điểm của một Luận sư )

Bài 2: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Tính thời đại, quốc độ, dân tộc )

Bài 3: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI ( Từ bỏ sở kiến chủ quan )

Bài 4: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Người giàu đánh mất chìa khóa mở kho tàng của mình)

Bài 5: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Một câu thần chú, một tâm Bồ đề)

Bài 6: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Ngưỡng mộ nhưng không phụ thuộc hình thức)

Bài 7: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Thần chú và góc cạnh ngữ âm)

Bài 8: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Xả ly những gì đáng xả ly)

Bài 9: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI ( Chấp pháp vì chấp ngã )

Bài 10: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Tu trong trạng thái động)

Bài 11: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Phát Bồ đề tâm, trì chú theo bước chân)

Bài 12: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI ( Ưu việt tâm Bồ đề )

Bài 13: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Bồ đề tâm: chỉ quán song hành )

Bài 14: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI ( Tiếp cận trí huệ Bát nhã trong thiền quán Bổn tôn)

 Bài 15: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (3 phương tiện tối thượng , 7 sức trang hoàng, 9 đặc điểm liên quan đến Bổn tôn)

Bài 16: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI ( Đừng mặc cảm bản thân!)

Bài 17: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (suy tư về những nghi thức tụng niệm, kinh nhật tụng)

Bài 18: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Trình bày Nghi quỹ Hành trì Giáo pháp Mật tông ở Mật gia Song Nguyễn)

Bài 19: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP SAI (Tính học thuật trong Nghi quỹ Hành trì Giáo pháp Mật tông) 

 Bài 20: GIÁO PHÁP ĐÚNG, PHƯƠNG PHÁP ĐÚNG

  1. Mô Phật,
    Con tán thán với bài giảng dạy của Thầy. Cũng nhờ sự chỉ dạy tận tình của Thầy mà con đã biết được nền tảng của trí huệ. Dựa vào nền tảng đó , con đã xả ly những tà kiến và vô minh mà bấy lâu nay con vẫn cho là đúng. Như tin thờ Thần tài, Thổ Địa, tin vào cúng sao, giải hạn, xin xăm,….
    Về sự chiêm ngưỡng thánh tướng Bổn Tôn với lòng sùng mộ con vẫn chưa thấu hiểu lắm. Con mong đợi bài giảng tiếp theo của Thầy.
    Om mani padme hum.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>