Oct 10, 2017

Posted by in Giáo điển | 70 Comments

Đạo sư Thinley Nguyên Thành đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ – Bài 2: CÁI BẪY CỦA TÂM THỨC (Bài mở)

Đạo sư Thinley Nguyên Thành đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ – Bài 2: CÁI BẪY CỦA TÂM THỨC (Bài mở)

Đạo sư Thinley Nguyên Thành đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ

Bài 2: CÁI BẪY CỦA TÂM THỨC

DẪN ĐỀ:

Vừa qua bạn đọc “trương” viết comment bày tỏ sự khó chịu vì tiến sĩ Triết học Thích Nhật Từ có những lời nhận xét về Cư sĩ Bồ tát Lý Bĩnh Nam, đại lão hoà thượng Tịnh Không. Nhân đó trò Mật Tịnh Giác đưa đường link về xuất xứ của sự cố tâm linh này, từ trang mạng Thư viện Hoa sen bên Mỹ Quốc. Tiếp theo, trò Mật Huệ Pháp lên mạng đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ trong đó đề cập đến một vấn đề tâm linh liên quan đến đối tượng tăng sĩ và cư sĩ trong hoạt động tâm linh, đặc biệt là về thiền định mà tiến sĩ này quả quyết ai được ly dục, ai không? Nhân dịp này, tôi sẽ trình bày đôi điều về vấn đề trên…

ĐỪNG NGỘ NHẬN VỀ THIỀN ĐỊNH

Tôi thấy đường links rồi, nhưng noi theo tinh thần của Hứa Do, Sào Phủ, tôi chẳng đọc làm gì mà chỉ cần chiếu theo sự trình bày của bạn đọc “trương”, của Mật Tịnh Giác và Mật Huệ Pháp, bèn vận trí mà luận bàn với mục đích cung cấp cho bạn đọc, nhất là học trò Mật gia Song Nguyễn được tường tận, cũng gián tiếp khơi dậy gia tài “tàm quý” của ai đó đang bị cất giấu bởi tên trộm “tăng thượng mạn”.

Đầu tiên nên hiểu thế nào là thiền định? Không phải dùng từ “meditation” là đủ nghĩa đâu! Trong từ “thiền định” nếu là một tu pháp thì gọi là sự tập trung cho đến nhất tâm. Trong thuật ngữ Phật gia có cụm từ “tứ thiền bát định” (4 tầng thiền, 8 sức định), vậy thì thiền định gồm có thiền và định nếu nói về thành quả tâm linh. Nên hiểu đắc định Sơ thiền đến định Tứ thiền khác với đắc quả Sơ thiền đến Tứ thiền. Một người tu, nếu muốn đắc quả Sơ thiền, ngoài định Sơ thiền (thiền chỉ) mà còn phải quán 11 đề mục mới đạt quả Sơ thiền. Cho nên, đắc định Sơ thiền sẽ thành tiên, sau mạng chung sanh vào cõi trời Dục giới, đắc quả Sơ thiền sẽ thành tiên nhân cõi dương trần, sau mạng chung sẽ thác sanh vào cõi trời Sắc giới. Tựu trung, cùng là pháp tu ở ngoại đạo, nhưng ai tập trung thiền quán nhiều sẽ đạt thiền quả cao hơn những ai tu thiền chỉ. Người đạt định đương nhiên có định lực cao cường, nhưng chưa hẳn có được phẩm hạnh toàn hảo. Song, người đạt thiền quả, chắc chắn sẽ có được phẩm hạnh tốt. Bằng chứng là Đề bà đạt đa đắc định Tứ thiền, nhưng làm chuyện càn quấy. Khi tu đạt quả Tứ thiền đương nhiên trong họ tràn ngập tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả), chỉ đợi một ngã rẽ nữa là đạt Thánh quả đạo Phật với điều kiện phải quy y Phật pháp. Những vị đạo sĩ chuyên chú thuật đạt định cao nhưng lại sa đà về ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy). Vì sao vậy? Định của họ là “tà định” nên không phát sinh Huệ, cho nên Phật dạy cần phải có “Chánh định”, là một trong 8 nhánh tu Giải thoát của Bát chánh đạo. Do vậy, đạo Phật chú trọng thiền quán hơn thiền chỉ trên phương diện đạt cứu cánh giải thoát. Ở điểm tham chiếu này tôi tán thành quan điểm của trò Mật  Nguyên Tánh viết comment “– “Chính định gồm có bốn cấp độ: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.” => Câu này đã cho bạn đọc rõ “tri kiến” Phật học của vị Tiến sĩ này như thế nào. Nói chính (chánh) định thì phải so sánh với đối tượng đối lập là tà định thì mới phù hợp, ở đây thì thầy TNT lại dùng từ này để liệt kê các cấp độ thiền -> đúng là “râu ông này cắm cằm bà kia”, thật là loạn. Lại nữa khi nói như vậy thì cũng không chính xác vì đắc định và đạt quả vị thiền là hai việc hoàn toàn khác nhau”.

cho nên Phật dạy cần phải có “Chánh định”, là một trong 8 nhánh tu Giải thoát của Bát chánh đạo

 

Tiến sĩ triết học Thích Nhật Từ dùng từ “chính định” là không đúng dù nghĩa của nội dung không khác, vậy thì tại sao trong nhiều văn cảnh Thầy ấy dùng “Bát chánh đạo” mà không là “Bát chính đạo”? Đây là tiểu tiết như cánh cửa sổ của ngôi nhà, nhưng khẳng định chủ nhân phải là kẻ lập dị, ưa cải cách, cách tân những gì không cần thiết, tựa như đã có từ “tăng đoàn”, hà tất phải đổi ra thành “tăng thân”, “giáo đoàn”; giống như lâu nay đã tụng “Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật” thì lại biến cách thành “Nam mô Phật Thích ca Mâu ni”? Có nên như vậy không khi nội dung không gì khác, nếu khác chăng là mình muốn thể hiện bản ngã “siêu việt” chăng? Cũng vậy, tinh ba đạo Phật so với ngoại đạo là vì 84.000 pháp môn phù hợp với mọi căn cơ chúng sanh, sao lại đề ra, tự nghĩ ra “đạo Phật nguyên chất” giống như tên gọi của một cụm từ thức uống?

Trở về luận kiến về thiền định, ngài Thích Nhật Từ viết: “Chính định gồm có bốn cấp độ: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Cốt lõi của sơ thiền là chuyển hóa tính dục (ly dục sinh hỷ lạc). Không có người tại gia nào đang sống với tình yêu và tính dục có thể đạt được sơ thiền. Do đó, người tại gia không giác ngộ được, không giải thoát được. Ngoại trừ, những người tại gia độc thân, quyết tâm tu giống như các tu sĩ, đúng phương pháp Phật dạy thì có khả năng chứng đắc được sơ thiền, để từ đó đạt được tứ thiền, trên nền tảng này, chứng được Tam minh, trở thành A-la-hán”.

Đại thành tựu giả Sahara

Thực sự đây là một lập luận khinh suất mà tôi nêu ra một ví dụ điển hình để phản biện: Nếu nói rằng cốt lõi của sơ thiền là chuyển hoá tính dục (ly dục sinh hỷ lạc) thì tại sao Đề bà đạt đa đắc định Tứ thiền mà làm điều càn quấy, mưu đồ hại Phật, chia rẽ Tăng đoàn? Phải chỉnh lại như vầy: người tu chứng đắc Sơ thiền sẽ đạt ly dục sinh hỷ lạc, chớ không phải đắc định. Xưa kia Đức Phật từng không tán thành định lực nhất tâm đến nỗi 500 con bò ngang qua cũng không biết gì do một tu sĩ ngoại đạo tự đắc. Ngài Saraha, đứng đầu 84 thành tựu giả Mật tông Đại thủ ấn, nhập định một lúc 12 năm vẫn bị chê là lạc thiền bởi vì khi vừa xuất định vẫn nhớ lại bát canh củ cải! Từ đây cho thấy đắc định Sơ thiền không có cốt lõi ly dục như ngài Thích Nhật Từ viết, mà phải gọi là chứng đắc Sơ thiền. Từ đây cũng cho thấy ngài Thích Nhật Từ chưa thấu triệt diễn trình thiền định, chưa am hiểu toàn diện về Nội minh trong Ngũ minh Phật môn, ngay cả về từ ngữ học thuật! Ở đây tôi muốn nhấn mạnh rằng cụm từ “chuyển hoá tính dục” khác hoàn toàn với thực chất ý nghĩa “ly dục sinh hỷ lạc”. Chuyển hoá tính dục là một tu pháp đặc thù của Phật giáo Mật tông có khả năng chuyển hoá ngũ dục Thế gian (tài, sắc, danh, thực, thuỳ) thành ngũ trí Như lai (bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, đại viên cảnh trí, thành sở tác trí, pháp giới trí). Yếu nghĩa đó không tương đồng như ngài tiến sĩ viết ra như trên!

THỰC NGHĨA CỦA LY DỤC LÀ GÌ?

Bây giờ nên hiểu thế nào là dục? Hiểu được nguyên nghĩa từ này mới có thể đi vào lĩnh vực thiền học, còn không thì có lẽ làm “người giàu đánh mất chìa khoá mở kho báu của mình”, “con vẹt chỉ biết đọc tụng” như khuyến cáo của thánh sư Gampopa trong mục 14 thất bại trầm trọng của một người tu.

Dục tức là muốn, cho nên thường có cụm từ “ái dục” tức là “ham muốn”. Dục nào mà loài người và các loài khác ham muốn? Kinh điển Phật môn khẳng định gồm 5 dục (ngũ dục) : (1) sắc dục (2) tài dục (3) danh dục (4) thực dục (5) thuỳ dục, có nghĩa là tham sắc, tham tiền, tham danh, tham ăn, tham ngủ từ chỗ thọ lạc với đối tượng là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Từ đây chúng ta có thể hiểu người đắc Sơ thiền sẽ lìa tham dục thế gian, đáng cho chúng sanh ngưỡng mộ, cho nên Đức Phật dạy đó là 1 trong 14 đối tượng đáng cúng dường dầu ngoại đạo hay đạo Phật (kinh Phân biệt cúng dường). Còn đắc định Sơ thiền là bắt buộc trải qua 5 chi thiền là tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Với tu pháp của Đại thừa, Kim cang thừa thì phân loại thành 9 cấp trụ tâm từ hướng tâm, tiếp tục hướng tâm, trụ tâm, trụ tâm trọn vẹn….đến nhất tâm). Người tu định khi đắc định có định lực cao cường, trổ thần thông biến hoá, tha tâm thần thông rồi sẽ sinh ra tự đắc, ngạo mạn, lạc vào lưới ma vì tưởng mình đã cao siêu, nhưng thực ra không bằng một bà già mù chữ niệm Phật hoặc trì chú với phát nguyện vãng sanh Tây phương Cực lạc quốc. Xưa kia, Đức Phật sau phân tích cho một Bà la môn tên là Saganrava về tác hại của thần thông biến hoá, tha tâm thần thông, Ngài khẳng định chỉ có thần thông giáo hoá mới là cứu cánh tối thượng. Điều đó có nghĩa là chỉ cho chúng sanh tri kiến giải thoát bằng nhận thức đâu là khổ, đâu là nguyên nhân khổ, đâu là pháp diệt khổ, đâu là cảnh giới thoát khổ, gọi tắt là “Tứ diệu đế”.

Do đó tôi cần nhấn mạnh về lập luận của ngài Thích Nhật Từ khi cho rằng người tu tại gia không thể ly dục nếu có đời sống gia đình là sai lầm. Bây giờ tôi dùng tỉ lượng biện giải mà đối luận: theo cách tư duy của ngài là ly sắc dục (hoạt động tình dục vợ chồng hoặc nam nữ) gọi là đạt Sơ thiền, vậy dục lạc có 5 thì thử hỏi vị thầy tu trong chùa ly được một thì có đắc Sơ thiền không? Vì sao vậy, đời sống tự viện của bậc tỳ kheo không được vướng sắc dục nhưng họ vướng cái gì? Thầy tu dùng tiền thí chủ cúng dường mua xe hơi, nhà lầuthì vướng gì? Thầy tu tranh nhau đến mức đấu đá để được làm trụ trì thì vướng gì? Thầy tu t  ham tiền đến nỗi bất chấp vai trò sứ giả Như lai để làm tên thầy bói, xem tử vi, coi ngày lành tháng tốt, cúng sao giải hạn, tụng kinh tụng đám thì vướng gì? Thầy tu tham quyền cố vị, ưa lập thành tích tượng to, chùa lớn thì vướng gì? Sao các vị đó không tìm cách ly dục đi? Vậy tôi xin hỏi những tỳ kheo đó có đắc định, chứng thiền không? Do vậy, Phật Hoàng Trần Nhân Tông khuyến cáo:

“Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng

Mắt theo hình sắc, mũi đưa hương

Bôn ba làm khách phong trần mãi

Ngày hết, quê xa vạn dặm trường”

….chớ ngài không bảo riêng vụ ly dục nam-nữ đâu!

Từ những điểm tham chiếu này bạn đọc và các trò hiểu rằng ngài Thích Nhật Từ muốn đề cao “sở trường”, “lợi thế” của mình là đoạn sắc (chớ không phải lìa dục) mà giương cờ lập luận, nhưng thật ra chữ “dục” không phải như ngài ấy hồ đồ giải nghĩa nhằm hạ thấp tinh thần tiến tu của cư sĩ tại gia có đời sống gia đình. Tại sao tứ chúng đồng tu (tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di) mà chỉ có chúng tỳ kheo lại chứng đắc, chúng kia lại không trong khi Đức Phật tuyên bố “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”.

“Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”

Nhân đây tôi cũng trình bày thêm rằng ngay cả những người đạt Sơ thiền đến Tứ thiền, cũng không thể đạt đến Thánh quả đạo Phật, đừng nói gì đến người tu đắc định! Vì sao vậy, bởi đắc định Sơ thiền đến Tứ thiền mới chỉ đạt cảnh giới an lạc và quang minh, đắc định Tứ không (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) mới chỉ đạt cảnh giới Vô niệm, Vô tâm mà Phật hoàng Trần Nhân Tông cảnh báo: “Chớ bảo Vô tâm là cứu cánh. Vô tâm còn cách một trùng quan”.

Cho dù người tu ngoại đạo hoặc đạo Phật chứng thiền từ Sơ đến Tứ thiền cũng chỉ nằm trong giới hạn tâm thiền tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả) nhưng chưa phải là Phật tâm. Muốn vậy, người tu Phật đạt cứu cánh tối thượng cần dựa trên tâm thiền, sức định mà quán chiếu 1 trong 16 đề mục Tánh Không, mới có thể hoàn thành đạo nghiệp. Mà thiền là gì? Thiền mới là 1/6 trong Lục độ Ba la mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ)! Đối với 10 hoạt động tâm linh, Thiền chiếm 1/10 (lễ bái, sám hối, cúng dường, cầu nguyện, nghe pháp, chép kinh, giảng kinh, niệm Phật, trì chú, thiền định) thì có gì là quan trọng mà ngài Thích Nhật Từ tự mình vẽ ra sự vĩ đại, quy chụp vô cớ đối tượng này được, đối tượng kia không!  Từ đây cho thấy lập luận của ngài Thích Nhật Từ “chứng đắc được sơ thiền, để từ đó đạt được tứ thiền, trên nền tảng này, chứng được Tam minh, trở thành A-la-hán” là sơ sài, thiếu am tường giáo pháp và giáo điển mà tự ý luận giải lệch quỹ đạo Chánh pháp nhằm gây nhiễu sóng thanh văn (nghe pháp).

Trong khi đó Pháp vương Gyalwang Drukpa thứ 12 trong một lần đến thăm Việt Nam đã trả lời phỏng vấn liên quan đến những trăn trở của người tu tại gia không biết liệu họ có đạt thành quả (có thể hiểu là giác ngộ) hay không. Ngài nói rằng:” Câu nói rằng nếu không đi tu (xuất gia) sẽ không đạt thành quả là không đúng. Nếu bạn đủ năng lực nội tại, làm cư sĩ sẽ rất tốt. Mỗi ngày bạn phải đối mặt với những tham lam, tham ái của đời thường. Nếu chúng ta có thể vượt qua những điều này, ta sẽ giác ngộ tốt hơn.”

          Viết đến đây tôi tán thành lập luận của trò Mật Huệ Pháp về vấn đề này “Trong Kinh Tứ thập Nhị Chương, đức Phật đã dạy rằng “Chưa đắc thánh quả chớ nên tin tâm ý mình.” Trò Mật Huệ Pháp viết:

“…Tôi không hiểu dựa vào đâu, kinh điển chính thống nào mà Ngài cho rằng người tu tại gia không giác ngộ được, không giải thoát được? Dường như với lập luận này, Ngài cố tình phủ nhận những tấm gương của những vị thánh giả nổi tiếng có đời sống cư sĩ chăng? Phải chăng Ngài cố tình nâng cao vị thế của các vị tăng sĩ và hạ thấp cơ hội đạt giác ngộ của những người tu cư sĩ? Nếu như bên Trung Quốc có cư sĩ Lý Bỉnh Nam là thầy dạy đạo cho hòa thượng Tịnh Không và rất nhiều vị cao tăng hoà thượng khác thì ở Tây Tạng, Đại sĩ Liên Hoa Sanh, một vị cư sĩ có đời sống gia đình, lại là sơ tổ của Phật Giáo Tây Tạng hay còn gọi là Mật Tông, hay Đạo sư cư sĩ Dilgo Khyentse, hay ở Việt Nam có cư sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng nổi tiếng đó sao? Ngài có dám chắc rằng những vị này không đạt nổi cấp sơ thiền và không giác ngộ, giải thoát được sao? Các vị đó thông báo cho Ngài biết hay do Ngài đã “đắc đạo” mà tuyên như vậy? Ngài đưa ra lập luận như vậy trong khi bên trên Ngài lại nhấn mạnh rằng tu Phật là tu trí tuệ, như theo tôi hiểu là theo như tôn chỉ của Đạo Phật: “Duy tuệ thị nghiệp”. Dùng trí tuệ để chuyển hoá tâm phàm phu thành tâm Phật, và như vậy bất kỳ ai, dù là tăng sĩ hay cư sĩ, nếu đạt được điều này đều có thể giác ngộ và đạt giải thoát và ngược lại. Điều này cũng đúng với tinh thần “tứ chúng đồng tu”, ” chúng sinh bình đẳng” mà Đức Phật đã chỉ ra Phật, điều gì Phật dạy đúng quỹ đạo Giải thoát, chúng ta y giáo phụng hành, đừng chấp nhặt vào thừa nào mà gây hiềm khích trong Tăng đoàn, rơi vào chủ nghĩa bộ phái! (Đọc “Thế nào là Kinh Phật Chính thống” trong chanhtuduy.com). Việc phân chia Đạo Phật nguyên chất hay đạo Phật pháp môn mà Ngài nêu ra thực chất chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn hệ phái, chia rẽ tăng đoàn mà thôi. bởi Đức Phật đã tuyên thuyết trong kinh A Hàm rằng: “Nước của các biển chỉ có một vị mặn. Tất cả các pháp môn của ta chỉ có chung một vị Giải thoát.” Đó cũng là tấm lòng từ bi vô lượng, tâm bình đẳng của Đức Phật đối với chúng sanh vậy. Cho dù người tu thuộc tông phái nào đi chăng nữa, tu pháp môn nào đi chăng nữa, nhưng nếu mục đích cuối cùng của họ đều là giải thoát thì có gì là sai? Chiếu theo 64 Giới nguyện Bồ Đề Tâm được trích dẫn từ luận giải của Đạo sư Tịch Thiên và cuốn Giáo lý về ba giới nguyện của Đại sư Tsewang Samdrup thì Ngài đã phạm phải lỗi:
1. Cản trở những người có giới nguyện đạt tới sự toàn giác
2. Làm cho người khác từ bỏ giải thoát cá nhân
3. Không biểu trọn vẹn mục đích của từ bi

Bên cạnh đó, Ngài khẳng định rằng không có ý định công kích bất kỳ tông phái nào, cá nhân nào nhưng Ngài có ý gì đây khi nói rằng: “Năm 2012, có một lần HT. Tịnh Không bị hớ, vì chủ trương ngày 21/12/2012 là tận thế theo niềm tin mê tín của lịch cổ Maya. Điều này đã khiến cho nhiều người bỏ công ăn việc làm, ngồi ở nhà chờ chết tập thể với những người thân. Vì mặc cảm dân tộc, nhiều người Việt Nam cứ chuộng ngoại, chạy theo Tịnh độ tông cực đoan như vừa nêu, vô tình làm chết đạo Phật Việt Nam.
Trên thực tế, cũng khó trách HT.Tịnh Không được vì Hòa thượng không được học Phật pháp tại trường Phật học đến nơi đến chốn, mà chỉ học Phật pháp với cư sĩ Lý Bĩnh Nam. Bản thân cư sĩ Lý Bĩnh Nam cũng không học Phật pháp bài bản ở các trường lớp Phật học. Do đó, những giới hạn về tri thức Phật pháp ở HT. Tịnh Không là điều dễ hiểu và thông cảm được.”

Thưa ngài Thích Nhật Từ!

Không biết Ngài đã đọc bài viết này chưa:(http://chuacaolinh.com.vn/vi/Noi-Dung-Chi-Tiet.aspx?id=380&idn=2021)? Ngài đã gọi điện trực tiếp để nêu những thắc mắc này với Hoà Thượng Tịnh Không nhằm xác thực thông tin trên hay chưa, hay Ngài chỉ dựa trên những một tờ giấy truyền tay mà đã phủ nhận mọi công hạnh của một vị Hoà thượng nổi tiếng như vậy?

Rồi thái độ coi thường với vị đạo sư cư sĩ Lý Bỉnh Nam của Ngài qua nhận xét trên khiến tôi hiểu rằng Ngài cũng đang ngầm coi thường tất cả những vị đạo sư cư sĩ Phật giáo khác, những người không qua trường lớp đào tạo chính thống nào, không có chức vụ giáo phẩm nào chăng? Nếu mục đích của Ngài muốn đề cao cái gọi là Đạo Phật Nguyên Chất mà Ngài sáng tạo tên gọi này thì mong rằng Ngài nên tập trung vào những lời dạy chính của Đức Phật để bạn đọc hiểu rõ, thay vì phủ định các tông phái khác nhằm đề cao tông phái của mình, hay thay vì ” tự đề cao mình và chê bai người khác do muốn đề cao cá nhân và trục lợi.”. Nếu quả đúng như vậy thì tôi e rằng sự chấp thủ dẫn đến chấp pháp của Ngài quá nặng rồi. E rằng thay vì truyền bá đúng tinh thần trung đạo của Đạo Phật, Ngài lại rơi vào chủ nghĩa Bổn sư thuần tuý mà thôi (trích comment của Mật Huệ Pháp)!

THAY LỜI KẾT

Dùng những năng lượng xúc tình này chuyển hoá thành năng lực tâm linh, thúc đẩy mở mang trí huệ

 

Trong những pháp môn tu tập của ngoại đạo, các truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ dạy rằng ngũ dục thường gây nhân xấu cho các cảm xúc tham, sân, si, ganh tị, kiêu ngạo, và những xúc tình tiêu cực khác trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Cho nên, chúng được coi là bất tịnh, và phải được coi là độc hại, gây hậu quả nghiêm trọng, cần phải tránh xa! Song, không như cách trình bày trên, chúng ta lại có một cách tiếp cận khác. Nghĩa là dùng những năng lượng xúc tình này chuyển hoá thành năng lực tâm linh, thúc đẩy mở mang trí huệ. Tựa như những người có tài bào chế thuốc có thể biến những giống cây có chất độc thành những bài thuốc tốt.

Truyền thống Phật giáo Đại thừa có chỉ ra phương pháp chuyển DỤC LẠC thành AN LẠC. Để làm được như thế cần hiểu rõ cội gốc của bất an từ đâu? Một khi không thoả mãn tâm ý mình (hiện tượng này Đức Phật gọi là “khổ” (dukkha), chúng ta thường đổ lỗi vào (1) hoàn cảnh (2) ai đó (3) cái gì đó. Ta sẽ thầm trách: “Phải chi có cái đó (hoàn cảnh đó), (người đó) mình sẽ hạnh phúc?”.

Do vậy, ta liền gán lên đối tượng mình bị hấp dẫn, thay vì đúng bản chất và phẩm chất của nó, thành đối tượng lý tưởng, khác xa với thực tính của nó. Một khi đã có mục tiêu chiếm hữu thì ta phải gắng sức. Nếu thất bại là khi đối tượng ngoài tầm tay, ta sẽ đau khổ, bất mãn với mức độ phiền não nhiều hay ít, tuỳ theo mỗi cường độ khao khát của ta. Giả sử nếu thành công, thì cái mà ta chiếm hữu được cũng không đúng như mơ ước ban đầu của chúng ta. Do vậy, sau một thời gian nào đó, ta lại trở nên bất mãn với cái mình đang có bởi sự so sánh, đối chiếu với những cái khác, mà ta nghĩ là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn. Chẳng hạn như khi còn nghèo, ở nhà thuê phòng trọ, ta mơ ước có một mái nhà, dù nhỏ cũng đã quý rồi! Khi được nhà như vậy, thời gian sau khi đã thoả mãn sự hiện hữu của nó, nhàm chán sự tiện nghi ấy, nhìn thấy những nhà khác khang trang hơn, ta lại thầm muốn có một ngôi nhà mới khá hơn.

Thành tựu giả Thogme Zangpo

Những ý tưởng nhị nguyên như vậy sẽ tràn ngập trong tâm trí khi chúng ta bất mãn với cái mình đã có, và muốn tìm đối tượng khác có thể đem đến sự thoả mãn mà mình đang mong ước. Rồi sau đó trạng thái tâm lý cũ được tái diễn cho đến khi sức cùng lực kiệt mà ước muốn vẫn còn hừng hực… Không ngẫu nhiên mà thành tựu giả Thogme Zangpo khuyến cáo: “Dục lạc cũng như nước muối, càng uống càng thêm khát. Hãy buông bỏ những gì gây ra tham ái. Đó là pháp hành Bồ tát đạo”( trích“Ba mươi bảy pháp hành Bồ tát đạo).

Song, cần nên hiểu, “buông bỏ” là buông bỏ những gì gây ra trạng thái tham ái cho tâm ta, chứ không phải cái gì cũng buông bỏ, tựa như học thuyết Mác Lê có viết về phủ định: Phủ định có chọn lọc chứ không phủ định sạch trơn. Đó

Khi kinh nghiệm một điều thú vị nào đó, chúng ta chấp nhận nó một cách dễ chịu, hưởng niềm vui mà nó dành cho mình, không đòi hỏi nó điều gì hơn.

 xả ly đúng nghĩa của đạo Phật. Về quan điểm này trong một lần khai thị đồ chúng Phật tử, Yeshe Rinpoche dạy : “Khi kinh nghiệm một điều thú vị nào đó, chúng ta chấp nhận nó một cách dễ chịu, hưởng niềm vui mà nó dành cho mình, không đòi hỏi nó điều gì hơn. Chúng ta có thể có thái độ thoải mái như vậy vì hiểu rằng những lạc thú đó là vô thường, và hơn nữa, vì chúng ta nhắm đến một hình thức hạnh phúc cao hơn, đó là sự tiếp cận chân tính. Với mục tiêu cao cả này, chúng ta không bị những dục lạc mà mình thọ hưởng lôi cuốn, mà cũng không buồn khi sự việc không tốt đối với mình. Nói cách khác, thay vì nương tựa vào các đối tượng của các giác quan như giải pháp để đạt thoả mãn, chúng ta đặt niềm tin vào tiềm năng nội tại của mình…” ( trích “Mật giáo nhập môn – quan kiến về Tánh Không” trang 59).

Tuy nhiên, trên phương diện ứng dụng giáo pháp, để thực hiện xả ly cần phải có một cơ chế vận hành trong quỹ đạo chánh pháp. Điểm quan yếu ở đây, như đã nói trên, gói gọn trong 2 từ “CHUYỂN HÓA”. Khi đã quán triệt quan điểm chuyển hoá, chúng ta có thể đối mặt với dục lạc, sử dụng năng lực của chúng biến thành năng lực của an lạc. Do đó, đối với dục lạc, tức là ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc)  thay vì xả ly như những truyền thống ngoại đạo, thì các tông phái Phật giáo Đại thừa, nhất là  Mật tông, vẫn an nhiên thọ lạc như bao nhiêu người khác. Điều này có nghĩa là chúng ta không ngại đối đầu với dục lạc mà nhìn thẳng vào bản chất của dục lạc để tỉnh giác, và áp dụng trong đời sống tâm linh. Về quan kiến này Pháp vương Gyalwang Drukpa XII huấn thị: “Cuộc sống phải được hiểu là Pháp và Pháp phải được hiểu là Cuộc sống”. Đây là trường hợp của những cư sĩ tại gia trên đạo trình tiến tu giải thoát.

Song, điều kỳ diệu ở đây là hành giả vẫn chuyển năng lực hưởng thụ của mình thành pháp tu tập nhanh và mạnh để đạt giác ngộ.  Chuyện kể rằng có một vị vua thỉnh cầu Đức Phật dạy cách phát triển tâm linh thích hợp với người giữ nhiệm vụ xã hội quan trọng. Vị vua nói: “Tôi có bổn phận lãnh đạo thần dân của mình, không thể bỏ bê họ được. Tôi không thể làm như ngài là buông bỏ tất cả, đi vào rừng núi sống cuộc đời của một tu sĩ. Tôi muốn biết cách nào tu tập trong đời sống vương giả, xin ngài chỉ giáo”. Đức Phật trả lời rằng ngài có một phương pháp như vậy, đó là pháp tu Mật giáo. Ngài nói: “Với phương pháp này, một vị vua có thể song hành đời đạo, nghĩa là không cần phải bỏ một lạc thú vương giả nào”. Ngài bảo nhà vua rằng ông ta có thể tận hưởng mọi thú vui mà vẫn tiến tu giải thoát. Giáo lý mà đức Phật chỉ dạy nhà vua là Đạo pháp Kalachakra, hay Vòng Thời Gian, dòng truyền thừa giáo lý này cũng như những giáo lý Mật giáo khác, đã được duy trì không gián đoạn cho đến ngày nay. Yeshe Rinpoche khẳng định “Đã có vô số người Ấn Độ và Tây Tạng đạt giác ngộ tối thượng bằng những pháp tu tập này, tuyệt đối không không có lý do gì để chúng ta không thể hưởng lợi ích như họ”.

Làng Phước Thành ngày 12/11/2015

Thinley- Nguyên Thành


English version: COUTER-ARGUMENT WITH DR. THICH NHAT TU – ARTICLE NO. 2 

Bài liên quan:

ĐỐI LUẬN VỚI TIẾN SĨ THÍCH NHẬT TỪ (BÀI 1)

“ẢNH HƯỞNG” VÀ “VAY MƯỢN” (Đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ – bài 3)

 

  1. Mật Hạnh Giác says:
    Mô Phật!
    Kính Bạch Thầy! Con vô cùng tán thán bài viết này. Bằng khối lượng kiến thức Phật học đồ sộ, những luận giải sắc bén bằng phương tiện Ngũ Minh nhà Phật, vị Thầy đã giải đáp một lượng lớn những khúc mắt tâm linh gây ra trong bài phát biểu của tiến sĩ triết học Thích Nhật Từ.
    Bạch Thầy, con xin tán thán với luận giải của Thầy về thực nghĩa của Thiền cũng như những ảo tưởng phát sinh từ Thiền Định nếu đi sai lạc với Chánh Định. Các quả vị Thiền dù cao tột đến đâu cũng vẫn còn đưa đến Nhân luân hồi trong các cõi Dục Giới và Sắc Giới, nếu thiếu đi trí huệ nhà Phật. Hơn nữa Thiền chỉ là 1 trong 6 hoạt động Ba La Mật, 1 trong 10 hoạt động tâm linh, không phải căn cứ để bài xích người này tu được, người kia không.

    Bài viết cũng giúp con nhận thấy rõ chưa cần đến tấm gương Đề Bà Đạt Đa khi xưa, ngay trong thực tế cũng có những người miệng tán thán Định nhưng hành vi của họ thì Loạn, lúc thì phóng túng với Thân, Khẩu, Ý, lúc thì phỉ báng các bậc Thánh tăng cổ đức, chia tông rẽ phái, chia rẽ tứ chúng đồng tu, phủ nhận Nhân Quả. Con chợt nhớ đến những lời Đức Phật nói khi xưa về sự lũng đoạn Phật Pháp gây ra bởi Ma Ba Tuần đội lốt tu hành. Mục đích của chúng không nằm ngoài hủy hoại đi Giáo Pháp chân chính bằng những lời lẽ sặc mùi tà vạy, tin theo ý mình, chủ đích đánh bóng tên tuổi mình. Những kẻ đã gieo nhân Tà Kiến như vậy, khẩu nghiệp nặng nề như vậy, cuồng ngôn loạn ngữ như vậy mà còn mặt dày đi thuyết giảng ở nước này nước nọ thật không một chút nào Tàm Quý, có lẽ là nhờ lực quán tưởng rằng “không có địa ngục”. Những người chế ra “thuốc nổ TNT” có lẽ cũng đã từng không tin có địa ngục nốt.

    Bạch Thầy, khi đọc đến những dòng “Không có người tại gia nào đang sống với tình yêu và tính dục có thể đạt được sơ thiền. Do đó, người tại gia không giác ngộ được, không giải thoát được”. Con chỉ còn hai từ để nói là “ĐỘC ÁC”. Đây rõ ràng là lời lẽ của một kẻ Ác Tri Thức nói ra, gieo tâm lý mặc cảm nặng nề cho người Phật Tử tại giả, cản trở chúng sanh đạt chí nguyện giải thoát. Con xin vô cùng tán thán vị Thầy đã giảng nghĩa thế nào là Ly Dục thực sự. Xóa đi mặc cảm đã đè lên tâm thức người cư sĩ trong hàng ngàn năm qua bởi bè lũ Ác Tri Thức.
    “Tuy nhiên, trên phương diện ứng dụng giáo pháp, để thực hiện xả ly cần phải có một cơ chế vận hành trong quỹ đạo chánh pháp. Điểm quan yếu ở đây, như đã nói trên, gói gọn trong 2 từ “CHUYỂN HÓA”. Khi đã quán triệt quan điểm chuyển hoá, chúng ta có thể đối mặt với dục lạc, sử dụng năng lực của chúng biến thành năng lực của an lạc. Do đó, đối với dục lạc, tức là ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) thay vì xả ly như những truyền thống ngoại đạo, thì các tông phái Phật giáo Đại thừa, nhất là Mật tông, vẫn an nhiên thọ lạc như bao nhiêu người khác. Điều này có nghĩa là chúng ta không ngại đối đầu với dục lạc mà nhìn thẳng vào bản chất của dục lạc để tỉnh giác, và áp dụng trong đời sống tâm linh. Về quan kiến này Pháp vương Gyalwang Drukpa XII huấn thị: “Cuộc sống phải được hiểu là Pháp và Pháp phải được hiểu là Cuộc sống”. Đây là trường hợp của những cư sĩ tại gia trên đạo trình tiến tu giải thoát.”
    Con xin vô cùng tán thán vị Thầy đã thị hiện trước chúng con trong hình tướng người cư sĩ. Cho chúng con biết hạnh phúc giữa đời thường đi liền với Phật Pháp (“Cuộc sống phải được hiểu là Pháp và Pháp phải được hiểu là Cuộc sống”). Điều mà nếu không gặp được Thầy, có lẽ chúng con “vạn kiếp ngàn năm chớ hoài mong”. Tạ ơn Thầy đã chỉ dạy chúng con những pháp tu đơn giản mà thiết thực. Theo tấm gương các Đạo Sư Mật Giáo, Thầy đã dạy chúng con cách chuyển hóa Ngũ Độc trong cuộc sống thành Ngũ Trí. “Thọ Lạc Tâm không chìm trong Lạc”. Và còn rất nhiều những bài học gắn liền với đời sống người cư sĩ tại gia như chúng con. Con xin khắc ghi lời dạy của Thánh Giả Mã Minh rằng:

    “Vị Thầy xứng đáng không dễ thấy,

    Phải gồm đầy đủ những điều sau:

    Giới đức, trí tuệ, đa văn, nhiều phương tiện,

    Dạy trò, lớn nhỏ mọi căn cơ,

    Miễn sao thông hiểu nhiều Mật điển,

    Kiên nhẫn dạy trò không quản ngại thân sơ!

    ****

    9. Đầy đủ kinh nghiệm mười hoạt động,

    Lập đàn tràng thể nghiệm Mạn đà la,

    Tinh nghiêm giới luật trong ba cửa,

    Nhiếp phục trong ngoài thân ngữ tâm.

    ****

    10. Được làm đệ tử vị Thầy đó!

    Lại cho rằng không xứng đáng với mình,

    Khổ đau mãi mãi vì như vậy,

    Bởi coi thường bậc Thầy tâm linh,

    Chẳng khác gì khinh chê vị Phật!”

    Bạch Thầy, quả thực kẻ nào còn xem Thầy mình là…chim sẻ hay ai kia là đại bàng thì quả là mắt đã bị “quáng gà” hết sức nghiêm trọng. Tiếc thay trong thời đại Mạt Pháp tranh tối tranh sáng thế này vẫn còn nhiều chúng sanh bị “quáng gà” mà tin lầm vào những Tà Sư, cãi chày cãi bướng bên vực “Idol” của mình ngày càng góp phần hủy hoại Chánh Pháp. Cầu nguyện cho chúng sanh không đạp phải những quả “thuốc nổ TNT” trong tâm linh như vậy mà tan nát cả huệ mạng của mình.
    Cầu nguyện cho chư Kim cang Hộ Pháp làm việc cật lực để dọn đường cho bè lũ Tà Sư đi xuống cõi nào khác, đừng làm uế tạp cho chúng sanh cõi Ta Bà.
    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của vị Thầy tâm linh Thinley Nguyên Thành cùng người phối ngẫu của Ngài là cô Mật Diệu. Cầu nguyện cho người tứ chúng hun đúc “cái Dũng của người Tu” để bứt phá bao xiền xích tư tưởng áp đặt hàng ngàn năm nay bởi truyền thống vô minh. Cầu nguyện cho họ có duyên lành tìm được các vị Đạo Sư chân chính.
    Cầu nguyện cho chúng sanh có một đức khiêm nhường và tính hổ thẹn.
    Om Ah Hum.

  2. Mật Diệu Hằng says:
    Kính bạch Thầy!
    Con vô cùng hoan hỷ với luận giải của Thầy về vấn đề thiền và định mà rất nhiều người trong đó có con vẫn còn mơ hồ. Qua bài giảng của Thầy, con hiểu được là “đắc định Sơ thiền đến định Tứ thiền khác với đắc quả Sơ thiền đến Tứ thiền” và muốn đắc quả sơ thiền thì ngoài định sơ thiền ( thiền chỉ) thì người tu cần phải quán 11 đề mục mới có thể đạt quả sơ thiền. Và người chứng đắc sơ thiền mới có thể “ly dục sinh hỷ lạc”, còn mới đắc định thì không thể đạt đến trình độ tâm linh đó.
    Ngài Thích Nhật Từ lại cho rằng “chính định gồm có bốn cấp độ: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Cốt lõi của sơ thiền là chuyển hóa tính dục (ly dục sinh hỷ lạc). Không có người tại gia nào đang sống với tình yêu và tính dục có thể đạt được sơ thiền. Do đó, người tại gia không giác ngộ được, không giải thoát được.” Theo lời ngài thì người đắc định đã có thể “ly dục sinh hỷ lạc” và đạt được giác ngộ và có phẩm hạnh tốt, nhưng trong thực tế thời đức Phật có Đề bà đạt đa đắc định Tứ thiền mà làm điều càn quấy, mưu đồ hại Phật, chia rẽ Tăng đoàn; như vậy đắc định như ngài nói quả thật không thể đạt được “ly dục sinh hỷ lạc” chứ đừng nói đến đạt giác ngộ. Con thực sự không hiểu ngài Thích Nhật từ với tấm bằng tiến sĩ triết học có hiểu rõ về những quan điểm về thiền và định mà mình đang nói không?
    Ngoài ra, dù có đắc định hoặc đắc quả sơ thiền đi nữa nếu không tu tập theo đúng chánh pháp thì cũng chưa đạt được giác ngộ vì “đắc định Sơ thiền sẽ thành tiên, sau mạng chung sanh vào cõi trời Dục giới, đắc quả Sơ thiền sẽ thành tiên nhân cõi dương trần, sau mạng chung sẽ thác sanh vào cõi trời Sắc giới” và “Khi tu đạt quả Tứ thiền đương nhiên trong họ tràn ngập tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả), chỉ đợi một ngã rẽ nữa là đạt Thánh quả đạo Phật với điều kiện phải quy y Phật pháp”. Mặc khác nếu người tu quá bám chấp vào định nhưng lại sa vào ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) thì trở thành tà định.
    Trong ngũ dục không chỉ có sắc dục nhằm chỉ người tại gia có cuộc sống tình yêu và gia đình mà còn 4 loại dục khác gồm: tài, danh, thực, thuỳ nghĩa là tham tiền, tham danh, tham ăn, tham ngủ từ chỗ thọ lạc với đối tượng là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tại sao khi ngài Thích Nhật Từ nhắc đến cụm từ “ly dục sinh hỷ lạc”, ngài chỉ nhắm vào “sắc dục” trong đời sống lứa đôi của cư sĩ tại gia? Tại sao ngài không nhắc đến bốn loại dục còn lại? Phải chăng ngài không hiểu hay ngài cố tình lờ đi với những ái dục hàng ngày ngài thọ dụng – một vị tăng sĩ, đầu tròn áo vuông với biểu trưng ly sắc dục mà ai cũng biết, mà ngài chỉ nhăm nhăm vào điểm mạnh của mình là ly sắc dục và chỉ vào điểm yếu của cư sĩ là chưa ly được sắc dục? Con không nghĩ một người con phật chân chính mà lại đi “vạch lá tìm sâu” mà không nhìn lại mình và cố tình “chỉ trích” chúng sanh và tạo rào cản trong sự tầm cầu giải thoát của chúng sanh. Không hiểu bồ đề tâm của ngài lạc đi đâu mất, có lẽ đã bị tên trộm “tăng thượng mạn” lấy mất rồi.
    Và chính tên trộm “tăng thượng mạn” đã lấy đi mất gia tài “tàm quý” của ngài nên ngài mới dùng cái mớ kiến thức nông cạn về thiền và định cũng như về bản chất của tu học phật là tầm cầu giải thoát mà lên bàn luận về thiền và định, cũng như chỉ trích cư sĩ Cư sĩ Bồ tát Lý Bĩnh Nam, đại lão hoà thượng Tịnh Không. Trong khi đó, ngài còn không phân biệt được sự khác nhau của việc chuyển hóa tính dục khác việc ly dục sinh hỷ lạc. Rõ ràng về ngữ nghĩa hai cụm từ đó hoàn toàn mang ý nghĩa khác nhau, sao ngài có thể lấy cụm từ “ly dục sinh hỷ lạc” mà giải thích cho cụm từ “chuyển hóa dục tính”. Thầy đã luận giải rõ ràng “Chuyển hoá tính dục là một tu pháp đặc thù của Phật giáo Mật tông có khả năng chuyển hoá ngũ dục Thế gian(tài, sắc, danh, thực, thuỳ) thành ngũ trí Như lai (bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, đại viên cảnh trí, thành sở tác trí, pháp giới trí)” còn “ly dục” là sẽ lìa tham dục thế gian.
    Điều quan trọng hơn nữa, tôn chỉ của đạo phật là “duy tuệ thị nghiệp” chứ không phải “duy định thị nghiệp”. Vì định không mang đến mục tiêu tối hậu là Giả Thoát. “Trong sáu Ba la mật (lục độ Ba la mật) thì 5 món đầu gọi là phương tiện gồm (1) bố thí (2) trì giới (3) nhẫn nhục (4) tinh tấn (5) thiền định. Món thứ sáu gọi là trí huệ (6). Năm phương tiện trên nếu được cọ xát thực tế trong tu hành sẽ khởi lên được những “kinh nghiệm tâm linh” như an lạc, hoan hỷ, vô úy gọi chung là pháp lạc. Nếu đề cập cụ thể đến món thiền định (5) thì thực tế có nhiều người tu hiểu lầm những người đắc định với những hành giả trí tuệ và thành tựu giả chứng đắc.” (14 điều thất bại trầm trọng. Bài 16: ĐỪNG NHẦM LẪN ĐỒNG LÀ VÀNG!), thánh tăng Thogme Zangpo do vậy đã khẳng định: “Có 5 Ba la mật đầu mà thiếu trí tuệ Ba la mật thì không thể dẫn đến đạo quả” (trích Ba mươi bảy pháp hành Bồ tát đạo).
    Bên cạnh đó, thiền mới chỉ là 1/10 của các hoạt động tâm linh thuộc đạo Phật (lễ bái, cúng dường, sám hối, cầu nguyện, trì chú, niệm Phật, thiền tập, chép kinh, giảng kinh, nghe pháp). Như vậy, trí tuệ mới là yếu tố quan trọng giúp người tu học phật hiểu bản chất chân thật của sự vật và hiện tượng, và đoạn trừ được phiền não. Như Thầy đã dạy con “Từ đây cho thấy một hành giả đắc pháp không phải nhất nhất phải đắc định, mà trước hết là giác ngộ được “tứ diệu đế”, thẩm thấu được “tánh không” của Phật môn. Người chứng đắc bằng tuệ tri gọi là Trí tuệ A la hán (bên Kim cang thừa gọi là Trí tuệ thành tựu giả), còn chứng đắc cả hai vừa đắc định vừa đắc pháp gọi là Câu phần A la hán (bên Kim cang thừa gọi là Câu phần thành tựu giả). Họ thấu đáo được bản chất chân thật của sự vật và hiện tượng như chúng đang là.” (14 điều thất bại trầm trọng. Bài 16: ĐỪNG NHẦM LẪN ĐỒNG LÀ VÀNG!)
    Con thấy được rằng vì rơi vào cạm bẫy tâm thức, cụ thể là “tăng thượng mạn” mà ngài Thích Nhật Từ đã rơi vào điều thất bại trầm trọng của người tu mà thánh giả Gampopa khuyến cáo “Cho những kinh nghiệm tâm linh khởi lên từ những phương tiện là tối thượng mà không thấu đáo bản chất chân thật của sự vật và hiện tượng, cũng giống như nhầm lẫn đồng là vàng. Đây là một thất bại trầm trọng”.
    Qua luận giải của Thầy con còn hiểu được một vấn đề nữa là ngài Thích Nhật Từ đã quá kinh xuất khi nhận xét mang tính chỉ trích cư sĩ Bồ tát Lý Bĩnh Nam, đại lão hoà thượng Tịnh Không, những bậc trưởng lão trong đạo Phật, chỉ vì muốn thể hiện cái mạn của ngài trong khi ngài không tự quán xét hành vi thân ngữ tâm của mình theo đúng quỹ đạo chánh pháp với danh phận phật tử của ngài. Trong con có một suy nghĩ rằng, có phải vì nhân gieo trong kiếp trước là chê bai trưởng lão phật tử mà kiếp này ngài có hình tướng nhỏ bé như thế không? Có lẽ tập khí từ kiếp trước của ngài đã tạo cho ngài lối nhận xét “tự tin vào tâm ý mình khi chưa đắc thánh quả”. Con không hiểu ngài tu học phật, ngài có thấu triệt luật tắc Nhân – Quả không? Vì trong kinh nhân quả ba đời, đức Phật có dạy rằng:
    “37. Đời nay lùn bé do nhân gì?
    Kiếp trước khinh người khi xem kinh.”
    Con cảm ơn Thầy đã vì bồ đề tâm mà luận giải sâu sắc và chi tiết về vấn đề thiền và định, nhờ đó con học được bài học sâu sắc về “tàm quý” và “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” nếu không lại rơi ngay vào bẫy tâm thức của chính mình, và luật tắc Nhân – Quả chưa bao giờ sai chạy đối với bất kỳ một ai.
    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe, sự trường thọ của Thầy Cô vì sự lợi lạc của chúng sanh.
    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum.
  3. Mật Quốc Sanh. says:
    Kính bạch Thầy!

    Con hoan hỉ tán thán công hạnh của Thầy đã khai thị, cảnh tỉnh chúng đệ tử và bạn đọc hữu duyên không rơi vào cạm bẫy tâm thức! Chiếc bẫy này nếu thiếu đi trạch pháp nhãn sẽ khó nhận biết, bởi lẽ kẻ đặt bẫy lại là một vị Thượng toạ, Tiến sĩ triết học đã dịch hàng ngàn quyển kinh, có cả ngàn bài pháp thoại. Chiếc bẫy tinh vi, được bố trí thành nhiều tầng lớp này đặt ra không ngoài mục đích khiến chúng sanh xa rời quỹ đạo chánh pháp. Trong đó, nương theo trí huệ của Đạo sư, con xin được điểm mặt những lớp bẫy tâm thức này. Những điều con nêu có nội dung chưa đúng quỹ đạo chánh pháp, con mong Thầy từ bi khai thị và cho con được tịnh hoá.

    Thứ nhất, con thấy được chiếc bẫy mang tên thiền định. Ngài Tiến sĩ triết học khuyên người tu tại gia rằng “quyết tâm tu giống như các tu sĩ, đúng phương pháp Phật dạy thì có khả năng chứng đắc được sơ thiền, để từ đó đạt được tứ thiền, trên nền tảng này, chứng được Tam minh, trở thành A-la-hán”. Cái bẫy này dẫn dắt người tu mê lầm rằng cần theo lộ trình chứng đắc Sơ thiền rồi mới đạt Tứ thiền và đến thành A-la-hán (chứ chưa nói gì đến thành Phật). Nói như vậy, tại sao ngoại đạo và người tu đạo Phật cũng đắc định, đạt quả từ Sơ thiền với Tứ thiền nhưng vẫn không thành Phật quả vì “vô tâm còn cách một trùng quan” như lời Phật hoàng Trần Nhân Tông khuyến cáo? Theo lộ trình của chiếc bẫy này, không biết còn bao nhiêu người mạng chung sẽ thác sinh vào cõi trời, bao nhiêu vị sẽ bị giống như Đề bà đạt đa đắc định mà không có phẩm hạnh hay như ngài Sahara 12 năm tu thiền, sau khi xuất định vẫn nhớ tới bát canh củ cải đây??? Trong khi đó, ngài Tiến sĩ triết học đã nhầm lẫn cơ bản giữa Chánh định (mà ngài sáng tạo là chính định) là một trong Bát chánh đạo lại thành bốn cấp độ: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Từ thiền (từ đúng là bốn tầng thiền mà sao ngài Tiến sĩ lại dùng từ “cấp độ” giống như trẻ con dùng trong trò chơi quá!). Dưới sự phân tích với đầy đủ luận chứng, luận cứ của Thầy, bằng trạch pháp nhãn nhà Phật, chiếc bẫy tưởng tinh vi hoá ra lại thô kệch, lộ rõ việc không thấu hiểu bản chất mà chỉ nhằm đánh bóng bản ngã “siêu việt” của ngài Tiến sĩ.

    Thứ hai, là chiếc bẫy đặt ra nhằm đề cao người tu xuất gia và hạ thấp đạo nghiệp của người tu tại gia. Vị Thượng toạ, Tiến sĩ triết học cho rằng ” Không có người tại gia nào đang sống với tình yêu và tính dục có thể đạt được sơ thiền. Do đó, người tại gia không giác ngộ được, không giải thoát được”. Bản chất của thiền là làm quen với đối tượng để đạt được sự tập trung cho đến nhất tâm. Thiền định cũng chỉ là một trong sáu Ba la mật, một trong mười hoạt động tâm linh trong đạo Phật. Người tại gia hay xuất gia chỉ khác nhau về môi trường tu tập, đâu có khác nhau về quỹ đạo, lộ trình đạt giải thoát mà Đức Phật dạy trong kinh “Bát đại nhân giác” là “duy tuệ thị nghiệp”. Tức là lấy trí tuệ làm đạo nghiệp của người tu, dầu là xuất gia hay tại gia! Vậy tại sao ngài Tiến sĩ lại coi trọng việc đắc Sơ thiền, vốn ngoại đạo cũng có thể đạt tới? Và căn cứ vào đâu mà ngài Tiến sĩ triết học cho rằng người tu tại gia không đạt được Sơ thiền? Không thể giác ngộ được? Phải chăng ngài không biết tới lời dạy của Đức Phật là tứ chúng đồng tu? Đây là chiếc bẫy thật vụng về, mang tâm ý suy diễn, đầy tính chủ quan cá nhân.

    Thứ ba là chiếc bẫy về ly dục! Ngài Tiến sĩ dùng chiếc bẫy này để đánh vào tâm thức của người tu tại gia, sống đời sống gia chủ, vẫn còn tính dục. Và từ tâm ý chủ quan của mình, Thượng toạ Thích Nhật Từ cho rằng vì chưa ly dục mà người tu tại gia không thể giác ngộ. Điều này gây ra sự hoang mang với những người chưa hiểu đạo. Nhưng Thầy đã phân tích thấu triệt, rằng ngài Tiến sĩ triết học đã đánh đồng khái niệm chuyển hoá tính dục với việc ly dục. Đặt ngược lại vấn đề, ngài Thượng toạ đã xuất gia sao còn đi học ở trường thế gian để nhận tấm bằng Tiến sĩ triết học tại Đại học Allahabad (Ấn Độ)? Phải chăng khái niệm dục lạc của ngài Tiến sĩ chỉ có sắc dục nên người tu tại gia không thể giác ngộ? Và người tu xuất gia dù hám danh Hoà thượng, Thượng toạ, Tiến sĩ…và trục lợi cá nhân từ những ngôi chùa đầy những kỷ lục, những khoản tiền từ cúng dâng sao, giải hạn…vẫn đạt giải thoát? Để phá cái bẫy tâm thức này, con xin được trích lại luận giải của Thầy về phương tiện thiện xảo trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, Kim cang thừa: “…Do đó, đối với dục lạc, tức là ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) thay vì xả ly như những truyền thống ngoại đạo, thì các tông phái Phật giáo Đại thừa, nhất là Mật tông, vẫn an nhiên thọ lạc như bao nhiêu người khác. Điều này có nghĩa là chúng ta không ngại đối đầu với dục lạc mà nhìn thẳng vào bản chất của dục lạc để tỉnh giác, và áp dụng trong đời sống tâm linh. Về quan kiến này Pháp vương Gyalwang Drukpa XII huấn thị: “Cuộc sống phải được hiểu là Pháp và Pháp phải được hiểu là Cuộc sống”. Đây là trường hợp của những cư sĩ tại gia trên đạo trình tiến tu giải thoát.”

    Thứ tư là chiếc bẫy nhằm công kích tông phái, gây chia rẽ tăng đoàn. Cụ thể trong bài trả lời vấn đáp, kẻ đặt bẫy cho rằng: “Vì mặc cảm dân tộc, nhiều người Việt Nam cứ chuộng ngoại, chạy theo Tịnh độ tông cực đoan như vừa nêu, vô tình làm chết đạo Phật Việt Nam”. Đây là sự phỉ báng Tịnh độ tông và nhằm mục đích cổ suý cho cái gọi là “đạo Phật nguyên chất” mà vị Tiến sĩ triết học “phát minh” ra (mà không rõ định nghĩa nguyên chất thế nào khi thời Đức Phật tại thế chưa có chữ viết?). Ngài Thượng toạ dựa vào một số tác phẩm nguỵ kinh của người Tàu, mượn tâm lý dân tộc, bộ phái mà phủ nhận sạch trơn các tông phái khởi nguồn từ Phật giáo Trung Quốc là trái với tinh thần lục hoà, với khuyến cáo của Đức Phật nêu trong kinh A Hàm: “Nước của các biển chỉ có một vị mặn. Tất cả các pháp môn của ta chỉ có chung một vị Giải thoát”.

    Chiếc bẫy thứ năm là tạo nhân bất kính với bậc trưởng thượng nhằm đề cao bản thân, đánh bóng bản ngã của mình. Đó là chiếc bẫy được ngài Tiến sĩ triết học dựng lên bằng luận điệu như sau: “Trên thực tế, cũng khó trách HT.Tịnh Không được vì Hòa thượng không được học Phật pháp tại trường Phật học đến nơi đến chốn, mà chỉ học Phật pháp với cư sĩ Lý Bĩnh Nam. Bản thân cư sĩ Lý Bĩnh Nam cũng không học Phật pháp bài bản ở các trường lớp Phật học. Do đó, những giới hạn về tri thức Phật pháp ở HT. Tịnh Không là điều dễ hiểu và thông cảm được.” Thoạt nghe như là sự cảm thông của bậc “bề trên” vậy! Ngài dựa vào cái mác Tiến sĩ triết học để minh chứng cho việc “học đến nơi đến chốn”, để rồi phủ nhận địa ngục có thật bằng khoa học, giải thích hiện tượng quỷ nhập bằng y học và giờ là phỉ báng Hoà thượng Tịnh Không sao? Đây quả là chiếc bẫy nhằm:” tự đề cao mình và chê bai người khác do muốn đề cao cá nhân và trục lợi”.

    Kính bạch Thầy!

    Con cảm tạ ơn Thầy đã bằng trạch pháp nhãn nhà Phật chỉ ra nhũng chiếc bẫy tâm thức để cảnh tỉnh chúng đệ tử và bạn đọc tránh rơi vào bẫy của kẻ ác tri thức, làm chệch khỏi quỹ đạo chánh pháp. Không những vậy còn hại đến thân căn, huệ mạng không chỉ trong kiếp này và cả những kiếp sau.
    Noi gương Thầy và học theo tinh thần của Hứa Do, Sào Phủ, con xin tránh xa những chiếc bẫy với đầy rác tâm thức của kẻ ác tri thức kia! Để luôn giữ được chánh niệm về Thầy, Phật, Pháp, Tăng, con xin cầu nguyện:
    Hỡi Đại sĩ Liên Hoa Sanh, xin hướng tâm con về Phật pháp.
    Hỡi những Bậc toàn giác, đừng để con lạc vào tà đạo thấp kém.
    Hỡi vị Thầy từ bi, đồng với các Ngài chẳng khác, xin để tâm đến con.
    Con xin cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô!
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om mani padme hum.

  4. thuan says:
    Kính thưa Thầy
    Con là Hồ Mỹ Thuận, đã và đang đọc những bài Thầy viết (lồng ý nghĩa của dạy cách vận dụng trong cuộc sống của những cuộc đời của mỗi con người …)
    Cầu mong cho tất cả được hướng đến hiểu thấu và thuận theo chỉ giáo của Thầy và được thuận duyên như ý
    Và xin Thầy hoan hỉ con xin lưu lại số diện thoại của con 0934325748
    Kính chúc Thầy và Thân quyến ngày mới vui, khỏe mang nhiều lợi lạc cho các “HỌC TRÒ” còn đâu đó chưa tìm được Thầy
    Trò rất xin lỗi nếu có điều gì không phải kính xin Thầy chỉ dạy AH
    Xin Thầy cho con từ nay được xưng hô với Thầy là “TRÒ” , từ ngữ thôi nhưng Thầy đã gọi con cũng như bao người như vậy, vậy Thầy cho con dùng từ TRÒ mỗi khi thưa chuyện với THẦY
    Con rất biết ơn Thầy
  5. Mật Nguyên Tánh says:
    Kính bạch Thầy,

    Con thật hoan hỷ khi được đọc bài đối luận từ Thầy với đầy đủ những luận chứng và luận cứ, chứ không “ăn nói quàng xiên” và tin vào tâm ý chủ quan của mình như vị Tiến sỹ kia.

    Con tâm đắc với đoạn này “Người tu định khi đắc định có định lực cao cường, trổ thần thông biến hoá, tha tâm thần thông rồi sẽ sinh ra tự đắc, ngạo mạn, lạc vào lưới ma vì tưởng mình đã cao siêu, nhưng thực ra không bằng một bà già mù chữ niệm Phật hoặc trì chú với phát nguyện vãng sanh Tây phương Cực lạc quốc.”

    Con cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy Cô vì lợi lạc cho chúng sanh.
    Con cầu mong tất cả chúng sanh uống được tinh túy Cam Lồ.
    Con cầu mong tât cả chúng sanh có đức tính khiêm tốn và hổ thẹn.

    Kính Thầy,

    Om Mani Padme Hum

  6. Mật Huệ Pháp says:
    Mô Phật,
    Kính bạch Thầy,

    Được đọc bài Pháp của Thầy giảng giải về sự khác nhau giữa đắc định và chứng đắc sơ thiền, giữa ly dục sinh hỷ lạc và chuyển hoá tính dục, con không khỏi bàng hoàng khi nhìn lại những gì mà vị tiến sĩ triết học Thích Nhật Từ đã phát ngôn. Việc dùng sai từ đi đôi với nhận định không đúng đắn về người tu cư sĩ, rồi việc chê bai, thiếu tôn trọng những thánh giả, bậc đại trưởng lão trường phái Tịnh Độ khiến con phải nhìn lại vai trò của vị tiến sĩ này với cương vị Phó Tổng thư kí thường trực Uỷ ban Tổ chức Đại lễ Vesak Liên hợp Quốc 2014, khi chính trong đại lễ này, Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, đã có lời nhắn gửi đến tăng ni, Phật tử cả nước: Đoàn kết – Đoàn kết – Đại đoàn kết; Hòa hợp – Hòa hợp – Đại hòa hợp; Thành công – Thành công – Đại thành công! Liệu với tư tưởng khích bác, gây mâu thuẫn bộ phái như vậy, có hoà hợp, đại hoà hợp được không?

    Thật đáng trách hơn nữa khi vị này gần như “triệt tiêu” hy vọng được giải thoát, được về Cõi Tây phương cực lạc của biết bao người cư sĩ, nâng giới tăng sĩ lên một tầng lớp khác, giống như “tầng lớp thượng lưu”, tầng lớp Bà La Môn và Sát Đế Lợi, từng tồn tại ở Ấn Độ thời xưa. Thái độ coi thường người tu cư sĩ theo kiểu “tu Nhân tu Thiên” là tốt lắm rồi, hay kiểu” cũng dễ hiểu khi cư sĩ Lý Bỉnh Nam không qua trường lớp Phật học bài bản nào..” làm con chợt liên tưởng đến những trường hợp đại thiên tài trên thế giới không qua trường lớp đào tạo bài bản nào nhưng vẫn phát minh ra những sản phẩm làm thay đổi cuộc sống của cả nhân loại như Edison, Soichiro Honda, Henry Ford, Hai anh em nhà Wright,hay Tiến sĩ Janes Goodall …vv. Như vậy, rõ ràng yếu tố trường lớp, hay đời sống cư sĩ không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự giải thoát của người tu mà chỉ có trí huệ Nhà Phật mới là yếu tố tiên quyết. Bởi khi người khi người tu đã có được trí huệ Nhà Phật thì bản thân người đó, ở mức độ khiêm tốn nhất, cũng coi như đã đắc định ngay trong trí tuệ rồi.

    Con cầu nguyện cho sự trường thọ của Thầy, Cô
    Nguyện cho chúng sanh luôn tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ.
    Om Ah Hum

  7. Mật Nhị Khang says:
    Kính bạch Thầy!
    Con Mật Nhị Khang hoan hỷ với những luận giải của Thầy và các huynh đệ kim cang về thiền, sự khác nhau giữa đắc định Sơ thiền tới đắc định Tứ thiền cũng như đắc quả Sơ thiền tới đặc quả Tứ thiền. Những thành quả có thể đạt được từ đắc quả đến đạt Thánh quả đạo Phật phải đi đôi với với điều kiện phải quy y Phật pháp. Trạng thái từ đắc định tới đắc quả còn một hành trình dài tích tập trí tuệ, công đức và đạo đức. Đối trị dục lạc vốn là nguyên nhân của sinh tử luân hồi chỉ có con đường trung đạo mà Đức Phật đã chỉ ra như bát chánh đạo, trung dung, nhận thức rõ nhân quả, duyên phước để sống hài hoà giữa thân và tâm, dẹp trừ vọng tưởng, khát khao, giữ được an nhiên tự tại trước mọi biến chuyển của cuộc đời. Khi đó “tứ chứng đồng tu” đều đạt giải thoát khi làm theo những gì mà Đức Phật đã chỉ dậy.
    Con cảm ơn Thầy, Cô với những luận giải sâu sắc.
    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc của chúng sanh.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Ah Hum.
  8. Mat Ba says:
    Kinh bach Thay!
    Con da doc bai doi luan nay. Con xin tan than cong hanh cua Thay da dem lai niem tin cho nhung cu si tu tap tai gia. Da xoa di nhung mac cam do su pha huy niem tin cua nguoi khac ma tien si TNT da am muu pha hoai.
    Con cau nguyen cho suc khoe va su truong tho cua Thay Co!
    Om Ah Hum!
  9. Mật Phước says:
    Kính Bạch Thầy
    Qua sự đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ, chúng con có được bài pháp quý giá này của Thầy.Trong tu tập đời sống cư sĩ xả ly không nghĩa là phải buôn bỏ hết tất cả,mà xả ly những gì gây ra tham ái trong dục lạc (tài, sắc, danh, thực, thuỳ). Ta áp dụng pháp vào cuộc, cuộc sống là pháp,và vẩn thọ lạc cuộc sống giống như câu của Đạo huynh Mật Kiên là “Thọ lạc tâm không chìm trong lạc, ly trần thân vẫn ở ngoài trần”.
    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô.
    Cầu mong tất chúng sanh uống được tinh tuý cam lồ.
    Om Ah Hum.
  10. Mật Ngã says:
    Kính Bạch Thầy!
    Mặc dù trình độ hiểu biết của con về đắc định, đắc thiền còn cạn cợt nhưng con cũng có thể phân biệt được người đắc định phải qua 9 cấp trụ tập gọi là nhất tâm định ( đắc định sơ thiền) nó khác với đắc quả sơ thiền…Vậy mà Ts Thích Nhật Từ lại nói rằng “Chính định gồm có bốn cấp độ: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền…Con thật ngạc nhiên và bất ngờ với Tiến sĩ này, vì ngay cả những điều cơ bản này mà ông cũng không nắm vững, không hiểu rõ, hiểu đúng thì những gì ông nói, hướng dẫn.. người khác chẳng khác nào người mù dẫn dắt người mù. Thật là nguy hại!
    Bản thân ông không tin có địa ngục (dù ông phủ nhận nhưng đó vẫn là sự thật vì ông chỉ là phàm phu thì cái thấy, cái biết.. của ông còn cách mấy chục trùng quan với chư Phật) cũng đồng với không tin nhân quả thì những gì ông nói, làm sẽ đưa ông nhanh xuống địa ngục trong tương lai, một mình ông xuống đó đã đành ông còn “lôi kéo” nhiều người dễ tin thiếu hiểu biết xuống cùng ông…Than ôi!
    Bằng tiến sĩ của ông chỉ có danh mà không có “thực lực tâm linh”, ngay cả việc thông thái giáo lý mà ông cũng không có “thông thái” thì lấy đâu ra việc dù là “cạn cợt trong thực hành tâm linh”. Vậy mà ông lại tự đắc vào cái bằng tiến sĩ của mình mà chỉ trích, phê bình Cư sĩ Bồ Tát Lý Bỉnh Nam và ngài Tịnh Không là “không được học Phật pháp tại trường Phật học đến nơi đến chốn”.Còn bản thân ông học đến nơi đến chốn, có được bằng tiến sĩ đó thì được gì ngoài bản ngã căn phòng, tiêm nhiễm, đầu độc những ai muốn tu giải thoát, lôi kéo, gài bẫy cho nhiều người cùng xuống địa ngục với ông, chỉ làm hại người. Một ông tiến sĩ như vậy đã làm cho nhiều người phải khiếp rồi có gì hay đâu mà chỉ trích người khác.
    Con cảm ơn Thầy đã có bài viết kịp thời giúp cho chúng con và nhiều người khác hiểu rõ hơn về ông tiến sĩ Thích Nhật Từ này, và đó cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai đã, đang và sẽ lầm đường lạc lối vào chỗ ông ta mà nhanh chống chạy ra.
    Cầu nguyện cho những bọn tà sư đội lốp tu hành lừa dối hại chúng sanh sẽ nhanh chóng bị vạch mặt dưới lăng kính trí tuệ của nhà Phật mà không còn chỗ dung thân. Om Ah Hum!
  11. Mật Thủy says:
    Mô Phật!
    Con hoan hỷ tán thán bài luận giải của Thầy!
    Con thật vô cùng choáng ngợp với lượng kiến thức đồ sộ được trình bày vô cùng thứ tự, lớp lang, dễ hiểu. Con càng choáng hơn khi mà Thầy viết bài luận giải 5.000 từ này chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ! Con thầm cầu nguyện để được thẩm thấu một phần nhỏ phẩm tính trí huệ siêu việt này của Thầy.
    Cách lập luận và diễn giải của Thầy tựa như từng bậc thang được sắp tiệm tiến dễ dàng để chúng con tiếp cận được với ý nghĩa mênh mông bao la của cảnh giới thiền và lật tẩy những cái bẫy được giăng mắc loằng ngoằng đầy phô trương của vị tiến sĩ triết học thích điều chế thuốc nổ. Con cũng vô cùng hoan hỷ trước những comment của các huynh đệ kim cang. Thực sự thật là “đã” khi vừa được đọc bài viết của Thầy, vừa được đọc các comment đa dạng với nhiều góc cạnh đa chiều của các huynh đệ. Noi theo Thầy và với sự hướng dẫn, chỉ dạy của Thầy, chúng con đều có thể trình bày các quan kiến nhà Phật trên nền tảng chánh kiến, ngang qua chánh định và chánh tư duy, thể hiện bằng chánh ngữ,… Vậy thì chúng con đều được học và ứng dụng bát chánh đạo thường xuyên với tinh thần chánh tinh tấn, đâu hề bỏ qua bát chánh đạo như sự quy chụp vô căn cứ của vị tiến sĩ TNT? Mật gia Song Nguyễn cũng đâu hề qua trường lớp đào tạo Phật học bài bản nào mà sao Thầy trò Mật gia dũng mãnh trình bày quan kiến Phật học, đối luận mạnh mẽ, đả tà xây chánh với những bài viết mang tính học thuật chặt chẽ bao năm qua như vậy? Còn vị tiến sĩ TNT tự hào được đào tạo qua trường lớp học thuật bài bản, sao trình độ Phật học lại lôm côm, tự nói theo ý của mình, không dẫn chứng kinh điển, thậm chí diễn đạt loạn xạ cả lên? Con thấy thật khôi hài và đáng xấu hổ làm sao!
    Ngược lại với trình độ Phật học của mình, “trình độ” đánh bóng bản ngã của vị tiến sĩ TNT ngày càng cao khi vị ấy không ngừng tự “tiếp thị” giá trị mình lên bằng cách “dìm” người khác xuống, dù đó là những bậc cao tăng thạc đức nhiều công hạnh như cư sĩ bồ tát Lý Bỉnh Nam, hòa thượng Tịnh Không…, hay không ngần ngại xách động, chia rẽ các tông phái khi “lên giọng” phê bình Tịnh độ tông, Mật tông… theo ý riêng của mình, trong khi bản thân mình không am tường về các tông phái này.
    Con thật bàng hoàng khi vị tiến sĩ TNT khẳng định chắc nịch rằng “Đại đa số quần chúng chạy theo Tịnh độ tông và Mật tông vì họ được hứa hẹn, họ bị nghiện phước báu, nghiện Cực lạc, nghiện hạnh phúc mà không cần phải làm nhiều, tu tập nhiều”. Chỉ riêng cách dùng từ cũng đủ “khẳng định” chánh ngữ, trình độ thanh minh của vị tiến sĩ này tới đâu. Ai cũng hiểu từ “nghiện” chỉ dùng cho những đối tượng mang tính tiêu cực, là thông tục. Không ai dùng một từ thông tục để diễn đạt vấn đề mang tính chất trang nghiêm, đặc biệt là Phật pháp. Tích lũy phước đức (mức độ cao hơn là công đức) là việc nên làm, cần làm đối với bất kỳ người tu Phật nào, bởi đó là một trong hai bồ tư lương (bên cạnh trí tuệ) để về cảnh Phật. Sau khi mạng chung, vứt bỏ thân xác này, tài sản mà chúng ta mang đi được cũng chỉ duy nhất công đức và trí tuệ. Bởi vậy trong kinh Cứu La Đàn Đầu, đức Phật đã chỉ dạy các cách làm phước để được nhiều phước. Đức Quán Âm Bồ Tát cũng không ngừng khuyến khích chúng ta tích lũy công đức, vun trồng cây đức hạnh trong đại nguyện của Ngài. Và lời dạy của các bậc thánh trí khác cũng không khác. Chưa hề có một vị Phật, Bồ tát, Thánh tăng nào tuyên thuyết rằng tích lũy phước đức, công đức là việc không nên làm. Cách nói của vị tiến sĩ này chẳng khác nào “khinh chê vị Phật”, phê phán việc tích lũy phước đức, phỉ báng lời dạy của các bậc thánh trí! Thật không thể tin nổi sự liều lĩnh trong phát ngôn của vị tiến sĩ TNT này!
    Chỉ đi sơ lược một vài lời phát biểu (thực chất là trả lời thỉnh vấn trước đạo chúng) của tiến sĩ TNT được Thầy phân tích, giảng luận và các huynh đệ kim cang chia sẻ, con đã choáng váng trước sự phá hoại Phật pháp của kẻ ác tri thức đội lốt thượng tọa cao tăng thạc đức lừa đảo chúng sanh. Hình tướng ông ta thấp bé mà không tự suy xét lại nhân quả của bản thân mình, lại tiếp tục khinh khi người khác; thân là Thượng tọa mà chia rẽ tăng đoàn, xách động bộ phái, “cản trở những người có ý nguyện đạt tới sự toàn giác”; trình độ Phật học chẳng đến đâu mà thích ba hoa, vẽ hươu tán vượn, dụ dỗ và đưa chúng sanh vào những cái bẫy giết chết thân căn huệ mạng của họ. Thật kinh hãi thay cho những kẻ ác tri thức như vậy! Con cầu nguyện Kim cang hộ pháp sẽ dùng chày kim cang đập tan những kẻ tà sư, ác tri thức, chuyên phá hoại Phật pháp, gây họa cho chúng sanh! Cầu nguyện cho chúng sanh không bị rơi vào những cạm bẫy tâm linh như vậy, và nếu có, con cầu nguyện cho họ sớm thoát đường hầm, đến được với ánh sáng chánh pháp chân thật!
  12. Mật Hòa says:
    Kính bạch Thầy!
    Con vô cùng hoan hỷ khi đọc được bài viết của Thầy! Con xin cảm tạ và tán thán công hạnh của Thầy! Nhờ những luân giải sâu sắc của Thầy mà con hiểu và phân biệt được đắc định Sơ thiền đến định Tứ thiền với đạt quả Sơ thiền đến quả Tứ thiền. Thêm vào đó, con còn hiểu được người tu nên xả ly tham dục như thế nào là đúng theo quỹ đạo chánh Pháp, đó chính là “buông bỏ những gì gây ra trạng thái tham ái cho tâm ta, chứ không phải cái gì cũng buông bỏ”, và nhờ có phương pháp tu tập đúng, người tu còn có thể chuyển hóa ngũ dục thế gian (tài, sắc, danh, thực, thùy) thành ngũ trí Như Lai (bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, đại viên cảnh trí, thành sở tác trí, pháp giới trí). Từ đó mới thấy, những vị Thầy chân chính, sứ giả chân thật của Như Lai thì luôn xả thân bảo vệ chánh Pháp, hóa thân đồng dạng để giáo hóa chúng sanh bằng những phương tiện thiện xảo, nhằm giúp cho chúng sanh nhanh chóng quay về nẻo giác, còn bon tà sư đội lốt tu hành Phật pháp thì đa mưu quỷ kế, luôn sử dụng chức sắc, lời lẽ ngon ngọt đánh vào tâm lí những chúng sanh nhẹ dạ cả tin để tự khen mình và chê bai người khác, hòng dụ dỗ Phật tử, chia rẽ Tăng đoàn, hủy hoại chánh Pháp. Bởi vậy, con cầu nguyện cho những chúng sanh hữu duyên có thể đọc được bài viết này cùng nhiều bài viết khác trên chanhtuduy.com ngõ hầu trang bị được chánh kiến mà tránh khỏi việc cùng rơi xuống địa ngục với những tên tà sư như thế.
    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô để làm lợi lạc cho chúng sanh!
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh có được đức khiêm tốn và ý thức hổ thẹn!
    Om Ah Hum!
  13. mật chi says:
    Kính bạch thầy
    Con xin tán thán thiện hạnh của vị Thầy từ bi luận giải để cho chúng con hiểu được đâu là đắc quả sơ thiền và tứ thiền ,qua bài này thầy cũng luận giải để chúng con hiểu được ý đồ xấu xa của bọn tà sư nhằm chia rẽ tăng đoàn phủ nhận lời dạy của đức phật
    Con xin cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều có một đức tín khiêm tốn và một ý thức biết hỗ thẹn
    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và cô
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh sẽ tìm được cho mình vị đạo sư chân chánh
    Om ah hum
  14. Mật Tất Kiểm says:
    Kính Bạch Thầy .
    Con xin tán thán qua những luận giải vô cùng chi tiết của Thầy .Với lượng kiến thức lớn trong bài con như được nạp thêm và hiểu thêm , phân biệt được đắc định Sơ thiền đến định Tứ thiền với đạt quả Sơ thiền đến quả Tứ thiền .Song song với đó là luận giải vô cùng chi tiết về dục lạc .
    Cõi Ta Bà là cõi dục giới do vậy hầu hết mọi chúng sanh đều gặp phải trong mọi cuộc sống hàng ngày , đối với người tu tập thì dục lạc sẽ được chuyển hóa và được nhìn với góc nhìn hoàn toàn khác , hơn thế nữa có thể chuyển hóa thành dạng hình thức khác . Điều đặc biệt đó chính là cư sỹ thì luôn song hành cuộc sống đạo và khi có cuộc sống đời thường mà tâm vẫn bất định và xả ly dục lạc thì tốc độ đạt đến sự toàn giác còn nhanh hơn những người “đầu tròn áo vuông” nhưng vẫn có sự tham lam .Nhất là khi tu tập mật chú thừa , thì sự chuyển hóa lại càng nhanh chóng hơn nữa , qua đây một lần nữa chúng con càng trân quý giáo pháp mà Thầy đã truyền trao .
    Cầu nguyện cho sự trường thọ của Thầy Cô .
    Cầu nguyện cho chúng sanh hạnh phúc với thành tựu Phật tánh .
    OM AH HUM !
  15. Mật Huấn says:
    Kính bạch Thầy!
    Con rất hoan hỷ được đọc bài Pháp quý báu của Thầy; mặc dù bạn đọc “truong” không tuân thủ quy định của trang mạng Phật giáo nghiêm túc chanhtuduy.com, chỉ dùng một từ “truong” viết comment bày tỏ sự khó chịu vị tiến sĩ Triết học Thích Nhật Từ có những lời nhận xét về Cư sĩ Bồ tát Lý Bĩnh Nam, đại lão hoà thượng Tịnh Không nhưng vì từ bi, Thầy đã viết bài với mục đích cung cấp cho bạn đọc, nhất là học trò Mật gia Song Nguyễn được tường tận, cũng gián tiếp khơi dậy gia tài “tàm quý” của ngài tiến sĩ.
    Qua bài viết lợi lạc của Thầy, mọi người thấy rõ được ngài tiến sĩ chỉ như “con vẹt chỉ biết đọc tụng”, không am tường Phật pháp ngay cả về từ ngữ học thuật! “tâm linh thì cạn cợt”, không phân biệt được đắc định và đắc thiền nói gì đến diễn trình thiền định; là kẻ lập dị, ưa cải cách, cách tân để đề cao bản ngã, hạ thấp tinh thần tiến tu của cư sĩ tại gia.
    Cầu mong cho tất cả chúng sanh có đức tính khiêm tốn và ý thức biết hỗ thẹn.
    Cầu mong cho tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Cầu mong cho sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc cho chúng sanh.
    Om Mani Padme Hum!
  16. Mật Bình says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài giảng của Thầy. Con vô cùng hoan hỷ và tán thán công hạnh đả tà, xây cánh của Thầy. Qua đây con cũng hiểu được rằng, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, thì sự nhiễu loạn thông tin là điều không tránh được. Nhưng sự nhiễu loan thông tin trên phương diện tâm linh là điều vô cùng nguy hại, chúng làm thối thất người tu, cản trở sự giải thoát của người khác. Mà điều đó lại bị gây ra bởi những người mang danh tiến sĩ, Thượng tọa, với bản ngã trương phồng chỉ thích dương Đông kích Tây để chia rẽ, hạ thấp những Tông môn khác.
    Con cảm tạ Thầy đã vì chúng con, chúng sanh mà từ bi luận giải.
    Cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc của chúng sanh.
    Cầu cho tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum!
  17. Mật Hồng Tuyến says:
    Kính bạch Thầy,
    Con hoan hỷ khi đọc bài viết này.
    Om Mani Padme Hum.
  18. thanh thuy says:
    Thua thay con da boc xong bai nai roi ah cau mong su dau kho cua chung sanh duoc lang dieu
    Om ah hum
  19. Mật Tịnh Giác says:
    Kính bạch Thầy,
    Con rất hoan hỉ khi đọc bài pháp này của Thầy.
    Thầy Thích Nhật Từ từng ca tụng HT. Thích Nhất Hạnh là “một bậc nhân tài và một cao tăng hiện nay”. Có lẽ vì quá đề cao [thần tượng(?)] HT. Thích Nhất Hạnh, nên TT. Thích Nhật Từ đã vay mượn lại thuật ngữ “Đạo Phật nguyên chất” do HT. Thích Nhất Hạnh sáng tạo.
    Về “Đạo Phật nguyên chất”, “giáo lý Làng Mai”, trước kia con đã từng đọc một bài viết rất hay của Thầy Trí Thông phân tích cái gọi là “giáo lý Làng Mai” do HT. Thích Nhất Hạnh sáng tạo nên.
    (“Nhận định về giáo lý Làng Mai”: http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/TriThong.php)

    Trong bài giảng của thầy Thích Nhật Từ, có đoạn:
    “Pháp hành của người tại gia thấp hơn rất nhiều so với pháp hành của người xuất gia. Pháp hành tại gia giúp con người trở thành chân nhân, sống hạnh phúc và biết chia sẻ phước báu. Pháp hành xuất gia là tu tập giới-định-tuệ, giúp hành giả trở thành thánh ngay trong đời sống hiện tại này. Hai con đường tại gia và xuất gia hoàn toàn khác nhau. Mười pháp môn của Trung Quốc không pháp môn nào phân biệt giữa pháp hành giữa tại gia và xuất gia. Người tại gia và xuất gia tu cùng một kiểu, đọc cùng một nghi thức, thực tập chung một con đường và cho rằng cả hai đều được giải thoát như nhau. Như vậy là không đúng.

    Việc ứng dụng sai lời Phật dạy và không phân biệt các thực phẩm tâm linh dành cho hai đối tượng tại gia và xuất gia đã làm cho Phật giáo Trung Quốc, thông qua đạo Phật pháp môn, dẫn đến việc người ta phải “nhón chân” và “với tay” mãi mà không đạt được kết quả tu chứng. Đây chính là sự “cầu bất đắc khổ” mà đức Phật nói trong kinh Chuyển Pháp luân. Người tại gia không thể giải thoát được mà yêu cầu họ, khích lệ họ cần giác ngộ, cần giải thoát. Cho nên nhiều tu sĩ, Phật tử tu theo phong cách này một thời gian thì tự nhiên muốn rũ bỏ mọi trách nhiệm gia đình và xã hội, họ tưởng mình đã được tiến bộ. Thực ra đó là sự thiếu tinh tấn, là mất kiên trì, trái với đức Phật dạy”….
    —> TT. Thích Nhật Từ “phán” cứ như là Ngài ấy đã “đắc thánh quả” vậy (?).
    Con xin kính đảnh lễ tri ân Thầy.
    OM AH HUM

  20. Mật Lễ says:
    Mô Phật!
    Kính bạch Thầy, con thật hoan hỹ khi đọc bài này.
    Con cảm tạ ơn Thầy.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh uống được tinh túy cam lồ.
    Om Ah Hum!
  21. Mật Tịnh Tâm says:
    Kính bạch Thầy,
    Trò cũng có đọc qua bài viết trên Thư Viện Hoa Sen, trò không am hiểu về thiền học nên không dám lạm bàn, tuy nhiên nếu một hành giả sơ cơ mà đọc phát biểu của thầy Thích Nhật Từ (TNT) thì không khỏi khởi lòng nghi hối với Pháp môn mình đang tu học. Trò xin đi vào một vài phương diện của phát biểu của ngài TNT, nhằm góp phần bảo vệ Chánh pháp.
    Về thân giáo, khi ngài TNT nói Đại Lão Hòa Thượng Tịnh Không bị hớ khi nói là 2012 là năm tận thế, đạo huynh Mật Huệ Pháp đã dẫn trang web cho thấy đó là lời bịa đặt, nhằm hạ uy tín của HT.Tịnh Không, một vị cao tăng đang xiểng dương Tịnh Độ, phía sau đó là hạ uy tín của Tịnh Độ tông. Một vị Thượng thủ như HT.Tịnh Không, thì không thể không giữ giới “nói dối” và Ngài cũng rõ rằng “bói toán” là tà đạo, huống gì việc thành, trụ, hoại, diệt vốn không liên quan đến các bậc Cao Tăng. Bây giờ trò loại bỏ ngoài những nghi ngờ về động cơ khác, chỉ nói rằng người học đạo lúc nói pháp phải nói lời Ái Ngữ, chứ không phải dìm hàng đồng đạo như vậy. Cũng là nói về sự kiện ngày tận thế 2012, Thượng tọa Thích Chân Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp giảng rằng do ngài Tịnh Không vì quá từ bi với chúng sanh, nên thúc ép chúng sanh Niệm Phật. Cùng một vấn đề, nhưng lời Ái Ngữ sẽ giúp người tu kiên định với Chánh pháp.
    Về sách, thầy TNT nói : “Cùng thời điểm này, tôi xuất bản cuốn “Kinh tụng hàng ngày” gồm 49 bài kinh của hai truyền thống Nam tông và Bắc tông, gồm 1000 trang”. Trò cũng thỉnh cuốn này về nhà đọc rồi, và chỉ cảm nhận đây là cuốn sách tập hợp các bài Kinh, không thể thấy đâu là “Pháp môn” để tu trong đó. Vì sao? Vì 1000 trang sách, lời vàng ý ngọc của Thế Tôn, trí tuệ cao vời, thì làm sao mà hành giả sơ cơ có thể tiếp thu cho nổi! Người tu sẽ bị loãng, bị loạn, vì không biết chổ nào là Xả ly, chổ nào là Bồ Đề tâm và chổ nào là Tánh không. Việc tổng hợp các bài Kinh thành một cuốn sách như vậy, thật là tầm thường hóa lời Thánh Ngôn. Lời Phật là để giải thoát, chứ không phải đơn giản là áp dụng vào cuộc sống thế sự hằng ngày, sống tốt với mọi người, đạt thành công như loạt sách “Phát triển cá nhân” của thế gian. Bổn Tôn đã xác quyết :”Phật pháp không hiện hữu chỉ vì lợi ích tầm thường là nhằm bảo vệ các con khỏi sợ hãi và đáp ứng mọi ước muốn của con”. Nếu chỉ đọc, tụng thôi mà giải thoát chắc là con vẹt sẽ làm tốt hơn con người.
    Về Tịnh Độ tông, Thầy TNT cho rằng: “Do vì ngộ nhận bốn mươi tám lời nguyện là của đức Phật A-di-đà nên rất nhiều Phật tử, ngay cả các pháp sư Tịnh độ tông của Trung Quốc đã mê tín khi cho rằng chỉ cần niệm mười niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà là được vãng sinh Tây phương Cực lạc. Điều này là không thể được, vì phi nhân quả.” Trong khi ngài nói “phi nhân quả”, ngài TNT không nói rằng đạo quả ở Tây Phương cũng chia ra 9 phẩm, nếu đới nghiệp vãng sanh cũng còn bị ở nơi Biên địa, cảm giác bị giam lỏng không hề dễ chịu chút nào, trở về Tịnh Độ là để tu học tiếp chứ không phải về đó là thành Thánh ngay, vậy nhân quả là ở chổ tu học càng nghiêm túc ở chốn ta bà, đạo phẩm đạt càng cao. Ngài TNT nói theo kinh A Di Đà, một trong những tiêu chuẩn vãng sanh là: “Căn lành lớn được hiểu là hết tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ và điều này Phật tử tại gia làm không được.”. Cách diễn dịch tự theo tâm ý mình của ngài TNT thật nực cười, việc giải thoát khỏi ngũ độc không phải là đặc quyền của riêng tăng sĩ, mà đó là thành tựu của từng cá nhân đang tấn tu trên Đạo lộ giải thoát. Ngài TNT chỉ là căn theo câu chữ mà diễn dịch, chứ chưa từng nhất môn thâm nhập, nên nghèo nàn về kinh nghiệm tâm linh! Trong Kinh A Di Đà, Thế Tôn cũng chưa từng nói đến: đâu là tăng sĩ, đâu là cư sĩ. Lại nữa, nếu kinh A Di Đà chỉ dành cho bật Thượng thủ (căn lành) như vậy thì tại sao đức Phật lại nói : “Xá- Lợi- Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này ( kinh A Di Đà), đó là rất khó!” (Kinh A Di Đà – dịch nghĩa: HT.Thích Trí Tịnh). Nếu là bậc Thượng thủ, thì không thể “khó tin” như thế, khi Như Lai nói pháp này (pháp niệm Phật) “khó tin” như vậy là dùng cho mọi căn cơ, trong đó có hàng tăng sĩ, cư sĩ. Việc nghèo nàn về kinh nghiệm tâm linh còn thể hiện ở chổ ngài rất chủ quan trong phát biểu về pháp môn Tịnh, Mật. Sao ngài ấy không nhìn thấy những vị Pháp Vương, Lạt Ma vẫn thường sang Việt Nam giáo hóa! Vẫn được Phật tử trong đó có các vị Giáo Phẩm đón tiếp một cách trọng thị! Nhìn vậy thì cũng biết là ai đang chấp pháp đến thế kia! Một cách diễn giải khác rất tùy tiện, theo tâm ý chủ quan của thầy TNT :” Yểm Ta-bà” là chán ghét Ta-bà, mà chán ghét thuộc về tâm sân.”, thầy ấy lấy tâm lý của thế gian mà gán ghép cho cái “yểm” xuất thế gian. Cái “yểm” của người niệm Phật là ở chổ: cái cảnh thế gian này nó diễn đi, diễn lại, kiếp nào cũng vậy, nên thấy hoài thì có gì mới, có gì hay đâu mà coi hoài! Cái chán ở đây là “không vướng bận”, “không bám chấp”. Vì vậy mà người tu quyết về Tây Phương, chứ không phải chán rồi bỏ công ăn việc làm, bỏ vợ chồng con cái, chỉ chăm chăm ở nhà niệm Phật một cách vô trách nhiệm như thầy TNT nghĩ.
    Về xả ly, vị Thầy đã chỉ ra những biểu hiện bám chấp của các vị tăng sĩ khi mua sắm siêu xe, siêu chùa, siêu tượng…cho đến bói toán, coi ngày, giải hạn…Vậy đâu phải khác nhau tướng trạng mà thành tựu tu học cao thấp. Về vấn đề ly dục mà thầy TNT nhấn mạnh là người tại gia không thể xả ly được “tính dục”, ngài ấy lầm lẫn là dục có đến 5 loại như vị Thầy đã chỉ ra, thì “tính dục” cũng chỉ là một phần năm. Bằng cách này, thầy TNT muốn nêu cao ưu thế của người xuất gia trong việc ly dục, nhưng điều đó có chắc không? Trong khi báo chí hồi tháng 8/2015 chỉ ra rằng Phương trượng chủ trì chùa Thiếu Lâm, Thích Vĩnh Tính đang bị điều tra vấn đề tiền-tình như thế nào (http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/tong-giao-dau-vo-tang-thieu-lam-to-dich-danh-tru-tri-20150813105458911.htm), rồi vị sư Thái Lan xài máy bay riêng ‘quan hệ với trẻ vị thành niên’ (http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/cuoc-song-do-day/nha-su-xai-may-bay-rieng-quan-he-voi-tre-vi-thanh-nien-2845024.html). Vấn đề “diệt dục” của các vị tu sĩ, sau cánh cửa Tự Viện chúng trò không có cách nào mà biết cho được, mà cũng chẳng phải việc của chúng trò cần phải biết. Chẳng thà như người cư sĩ chúng trò, công nhận nó như là một thực thể rồi chuyển hóa nó thành trí tuệ Phật môn thì rất là Quang Minh Chánh Đại, như vị Thầy đã giảng “Biến ngũ dục thành ngũ trí Như Lai”. Trong thiền môn, còn có câu: “đói ăn, khát uống!”, vậy tại sao không chấp nhận sự vật hiện tượng như nó đang là, mà phải đi đào sâu vào cái không đáng đào? Trò thật bất ngờ khi ngài TNT sử dụng “tính dục” như một ưu thế của tăng sĩ, trò vẫn tưởng rằng tu học phải cao siêu hơn thế nhiều, mà tăng sĩ phải có gì đó để mình nể phục hơn chứ.
    Về phương hướng hành động, trò thật rợn người khi thầy TNT liên tục nhắc đến những từ đao to búa lớn: Sắc lệnh, cải cách… nhằm biến đổi Phật giáo thành Đạo Phật thuần Việt. Nhưng ngài ấy lầm lẫn, cho dù Đạo Phật có thuần Việt đi nữa nhưng không diệt trừ được tà kiến: bói toán, coi ngày, đồng cốt… thì Đạo Phật cũng không trở về Chánh Đạo được. Rồi khi đã thuần Việt rồi, có chắc rằng đạo Phật lúc đó phù hợp với mọi căn cơ của chúng sanh hay không? hay lúc đó lại có những Tổ sư khác phải khai phá lại Thiền, Tịnh, Mật, Thiên Thai, Duy Thức, Hoa Nghiêm…để độ sanh. Thật là cách làm của thầy ấy như là đi “sáng tạo lại cái bánh xe”. Có những cao tăng đi qua nhiều pháp môn, cuối cùng mới chọn được pháp môn thích hợp, như ngài Tịnh Không đi từ Thiền sang Tịnh, Thiền sư Thích Duy Lực đi Tịnh sang Thiền tổ sư…Cách hiểu của ngài TNT thật như đứa con nít muốn làm chuyện lớn, chủ quan duy ý chí, có một từ Hán Việt rất hay đó là “ấu trĩ”. Huống gì giáo hóa chúng sanh là một quá trình tinh tế và bền bỉ, đó là chưa nói phải là “độ người có duyên”, trước là phải tự thân chủ thể phải đủ Đạo lực, Đạo phong, rồi mới tới việc kết hợp phương tiện mà giáo hóa, chứ không phải là cứ thay tượng Việt, thay chùa phong cách Việt, thay sách Kinh kiểu Việt là xong. Tu hành lấy tâm làm chủ, lấy trí làm đầu, chứ không phải như thầy TNT lấy thân làm chủ, lấy hình thức để chuyển biến nội dung, đó là việc cưỡng cầu cũng như là việc sơn cái cột gỗ mà muốn chống mối đục bên trong vậy! Rồi đây nếu ước muốn của ngài ấy thành hiện thực, trò không biết rằng bao nhiêu chùa, tượng, sách Kinh bị đập phá, thay đổi, chi phí xã hội tăng vô số cho một cái việc vô bổ như vậy, những xáo trộn đấy càng làm cho chúng sanh lầm thang, nghèo đói. Nếu vậy sự nghiệp hoằng dương chánh pháp ở chổ nào? hay là còn có tác dụng ngược nữa đây? Thầy TNT còn kêu gọi Phật tử là lên kế hoạch cụ thể là hằng năm lôi kéo được bao nhiêu Phật tử, mà lại quên đi lý nhân duyên, Đức Phật còn có 3 điều Ngài không làm được: “1) Không thể chuyển được nghiệp của chúng sinh./2) Không thể độ người không có duyên với Phật pháp./3) Không thể độ được hết thảy chúng sinh.” , vì vậy việc lấy số lượng người để đo mức độ thành công của công cuộc hóa độ chúng sanh, như chiến dịch “đa cấp” thì thật là nông cạn.
    Cuối cùng, nếu ai theo dõi các bài giảng của thầy TNT, thì thấy 2 giai đoạn, trước Phạm Thị Bích Hằng (PTBH) và sau PTBH, thì ngài ấy có sự thay đổi quan điểm rất trái ngược. Từ chổ ủng hộ những trò ngoại cảm, giờ đây ngài ấy bác bỏ những hình thức viễn vông đó. Theo quan kiến Phật môn, việc quay về đúng với Chánh Pháp là điều rất đáng ngưỡng mộ, nhưng cho đến giờ trò cũng chưa thấy một tuyên bố tàm quý nào của ngài ấy, đúng tinh thần “người tối thượng thứ hai” mà Thế Tôn đã dạy. Trong khi đó thì các phát biểu cực đoan thì ngày càng xuất hiện.
    Kính bạch Thầy,
    Dù đạo lực trò còn yếu kém, trò cũng xin góp tiếng nói ủng hộ sự nghiệp Đã Tà, Xây Chánh của Mật Gia. Trong lúc luận bàn còn nhiều sai sót, trò cúi mong Thầy huấn thị.
    Trò thành tâm cảm tạ Đạo Sư đã viết một bài đối luận cao vời và rõ ràng. Giúp chúng trò trang bị tri kiến Phật môn và vững tin trên con đường tu học.
    Trò đảnh lễ Thầy mình!
    Om Mani Padme Hum
    • Mật Tịnh Giác says:
      Mô Phật,
      Pháp đệ rất hoan hỉ và tán thán comment của huynh Mật Tịnh Tâm. Những phân tích ở trên của huynh đã giúp cho đệ sáng tỏ thêm nhiều vấn đề. Hoan hỉ, hoan hỉ (!).
      Pháp đệ cũng nhớ rằng, trong bài giảng của TT. Thích Nhật Từ có đoạn kêu gọi các Phật tử “lên kế hoạch cụ thể là hằng năm lôi kéo được bao nhiêu Phật tử…”. —> Điều này chẳng khác gì các đạo thuộc Kito giáo, cái mà dân gian thường gọi là “đạo dụ”.
      Theo thiển ý của pháp đệ, đạo Phật lấy trí tuệ làm sự nghiệp chứ đâu có “lấy giáo hội hay tín đồ làm sự nghiệp”(?). Quý hồ tinh bất quý hồ đa.
      Không phải vô cớ mà Albert Einstein đã phát biểu: “…đến với Phật giáo là để nắm bắt chứ không phải để chiêm ngưỡng”.
      Pháp đệ tán đồng comment ở trên của huynh: “Đức Phật còn có 3 điều Ngài không làm được: 1) Không thể chuyển được nghiệp của chúng sinh. 2) Không thể độ người không có duyên với Phật pháp. 3) Không thể độ được hết thảy chúng sinh. Vì vậy, việc lấy số lượng người để đo mức độ thành công của công cuộc hóa độ chúng sanh, như chiến dịch “đa cấp” thì thật là nông cạn.”
      OM MANI PADME HUM
  22. Mat Kinh says:
    Mô Phật !
    Con rất hoan hỉ với những luận giải của Thầy và các commnet của các huynh đệ, những luận giải đó đã chỉ điểm đúng điểm “tăng thượng mạn” của ai đó khi tự nhận là tiến sĩ Phật học khi không phân biệt chính xác vì đắc định và đạt quả vị thiền là hai việc hoàn toàn khác nhau mà phát ngôn “Chính định gồm có bốn cấp độ: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền…” thật không thể hiểu nổi.., Đã vậy Ngài còn cho rằng người tu tại gia không thể ly dục nếu có đời sống gia đình, chứng tỏ Ngài đã phủ nhận những tấm gương của những vị thánh giả nổi tiếng có đời sống cư sĩ…
    Con cũng hoan hỉ với đoạn kết của Thầy đã cho chúng con một bài học ” Điểm quan yếu ở đây, như đã nói trên, gói gọn trong 2 từ “CHUYỂN HÓA”. Khi đã quán triệt quan điểm chuyển hoá, chúng ta có thể đối mặt với dục lạc, sử dụng năng lực của chúng biến thành năng lực của an lạc. Do đó, đối với dục lạc, tức là ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) thay vì xả ly như những truyền thống ngoại đạo, thì các tông phái Phật giáo Đại thừa, nhất là Mật tông, vẫn an nhiên thọ lạc như bao nhiêu người khác”
    Con xin đảnh lễ tri ân Thầy và cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc của chúng sanh.
    Cầu cho tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om AH HÙM
  23. Mật Ly says:
    Thưa Thầy
    Con đọc bài này rồi ah
    Om mani padme hum
  24. Mật Kiên says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đảnh lễ tán thán công hạnh Thầy đã từ bi giảng giải một bài pháp chuyên sâu về chuyên môn tu tập Phật pháp.
    Những chánh tri kiến này, đệ tử chúng con đã được nghe được đọc từ những bài giảng khác của Thầy, nhưng không tránh khỏi “thoạt nhớ thoạt quên”, giờ có dịp ôn lại, con xin phép được rút ra những luận điểm sâu sắc trong bài để trang bị tri kiến đối luận, đả tà xây chánh và hướng đến ứng dụng tri-hành hợp nhất:
    “-Người đạt định đương nhiên có định lực cao cường, nhưng chưa hẳn có được phẩm hạnh toàn hảo. Song, người đạt thiền quả, chắc chắn sẽ có được phẩm hạnh tốt. Bằng chứng là Đề bà đạt đa đắc định Tứ thiền, nhưng làm chuyện càn quấy. Khi tu đạt quả Tứ thiền đương nhiên trong họ tràn ngập tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả), chỉ đợi một ngã rẽ nữa là đạt Thánh quả đạo Phật với điều kiện phải quy y Phật pháp. Những vị đạo sĩ chuyên chú thuật đạt định cao nhưng lại sa đà về ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy). Vì sao vậy? Định của họ là “tà định” nên không phát sinh Huệ, cho nên Phật dạy cần phải có “Chánh định”, là một trong 8 nhánh tu Giải thoát của Bát chánh đạo. Do vậy, đạo Phật chú trọng thiền quán hơn thiền chỉ trên phương diện đạt cứu cánh giải thoát.
    -Phải chỉnh lại như vầy: người tu chứng đắc Sơ thiền sẽ đạt ly dục sinh hỷ lạc, chớ không phải đắc định. Xưa kia Đức Phật từng không tán thành định lực nhất tâm đến nỗi 500 con bò ngang qua cũng không biết gì do một tu sĩ ngoại đạo tự đắc. Ngài Saraha, đứng đầu 84 thành tựu giả Mật tông Đại thủ ấn, nhập định một lúc 12 năm vẫn bị chê là lạc thiền bởi vì khi vừa xuất định vẫn nhớ lại bát canh củ cải! Từ đây cho thấy đắc định Sơ thiền không có cốt lõi ly dục như ngài Thích Nhật Từ viết, mà phải gọi là chứng đắc Sơ thiền.
    -Từ đây chúng ta có thể hiểu người đắc Sơ thiền sẽ lìa tham dục thế gian, đáng cho chúng sanh ngưỡng mộ, cho nên Đức Phật dạy đó là 1 trong 14 đối tượng đáng cúng dường dầu ngoại đạo hay đạo Phật (kinh Phân biệt cúng dường). Còn đắc định Sơ thiền là bắt buộc trải qua 5 chi thiền là tầm, tứ, hỷ, lạc, định.
    -Bây giờ tôi dùng tỉ lượng biện giải mà đối luận: theo cách tư duy của ngài là ly sắc dục (hoạt động tình dục vợ chồng hoặc nam nữ) gọi là đạt Sơ thiền, vậy dục lạc có 5 thì thử hỏi vị thầy tu trong chùa ly được một thì có đắc Sơ thiền không? Vì sao vậy, đời sống tự viện của bậc tỳ kheo không được vướng sắc dục nhưng họ vướng cái gì? Thầy tu dùng tiền mua xe hơi thì vướng gì? Thầy tu tranh nhau đến mức đấu đá để được làm trụ trì thì vướng gì? Thầy tu tham tiền đến nỗi bất chấp vai trò sứ giả Như lai để làm tên thầy bói, xem tử vi, coi ngày lành tháng tốt, cúng sao giải hạn, tụng kinh tụng đám thì vướng gì? Thầy tu tham quyền cố vị, ưa lập thành tích tượng to, chùa lớn thì vướng gì? Sao các vị đó không tìm cách ly dục đi? Vậy tôi xin hỏi những tỳ kheo đó có đắc định, chứng thiền không?
    -Nhân đây tôi cũng trình bày thêm rằng ngay cả những người đạt Sơ thiền đến Tứ thiền, cũng không thể đạt đến Thánh quả đạo Phật, đừng nói gì đến người tu đắc định! Vì sao vậy, bởi đắc định Sơ thiền đến Tứ thiền mới chỉ đạt cảnh giới an lạc và quang minh, đắc định Tứ không (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) mới chỉ đạt cảnh giới Vô niệm, Vô tâm mà Phật hoàng Trần Nhân Tông cảnh báo: “Chớ bảo Vô tâm là cứu cánh. Vô tâm còn cách một trùng quan”.
    -Cho dù người tu ngoại đạo hoặc đạo Phật chứng thiền từ Sơ đến Tứ thiền cũng chỉ nằm trong giới hạn tâm thiền tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả) nhưng chưa phải là Phật tâm. Muốn vậy, người tu Phật đạt cứu cánh tối thượng cần dựa trên tâm thiền, sức định mà quán chiếu 16 đề mục Tánh Không, mới có thể hoàn thành đạo nghiệp.
    Từ đây cho thấy lập luận của ngài Thích Nhật Từ “chứng đắc được sơ thiền, để từ đó đạt được tứ thiền, trên nền tảng này, chứng được Tam minh, trở thành A-la-hán” là sơ sài, thiếu am tường giáo pháp và giáo điển mà tự ý luận giải lệch quỹ đạo Chánh pháp nhằm gây nhiễu sóng thanh văn (nghe pháp).
    Thưa ngài Thích Nhật Từ!
    Không biết Ngài đã đọc bài viết này chưa:(http://chuacaolinh.com.vn/vi/Noi-Dung-Chi-Tiet.aspx?id=380&idn=2021)? Ngài đã gọi điện trực tiếp để nêu những thắc mắc này với Hoà Thượng Tịnh Không nhằm xác thực thông tin trên hay chưa, hay Ngài chỉ dựa trên những một tờ giấy truyền tay mà đã phủ nhận mọi công hạnh của một vị Hoà thượng nổi tiếng như vậy?
    -chúng ta thường đổ lỗi vào (1) hoàn cảnh (2) ai đó (3) cái gì đó. Ta sẽ thầm trách: “Phải chi có cái đó (hoàn cảnh đó), (người đó) mình sẽ hạnh phúc?”.
    Do vậy, ta liền gán lên đối tượng mình bị hấp dẫn, thay vì đúng bản chất và phẩm chất của nó, thành đối tượng lý tưởng, khác xa với thực tính của nó. Một khi đã có mục tiêu chiếm hữu thì ta phải gắng sức. Nếu thất bại là khi đối tượng ngoài tầm tay, ta sẽ đau khổ, bất mãn với mức độ phiền não nhiều hay ít, tuỳ theo mỗi cường độ khao khát của ta.
    -thay vì nương tựa vào các đối tượng của các giác quan như giải pháp để đạt thoả mãn, chúng ta đặt niềm tin vào tiềm năng nội tại của mình…” ( trích “Mật giáo nhập môn – quan kiến về Tánh Không” trang 59).
    [Lama Thubten Yeshe (1935-1984) –
    -trên phương diện ứng dụng giáo pháp, để thực hiện xả ly cần phải có một cơ chế vận hành trong quỹ đạo chánh pháp. Điểm quan yếu ở đây, như đã nói trên, gói gọn trong 2 từ “CHUYỂN HÓA”. Khi đã quán triệt quan điểm chuyển hoá, chúng ta có thể đối mặt với dục lạc, sử dụng năng lực của chúng biến thành năng lực của an lạc. Do đó, đối với dục lạc, tức là ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) thay vì xả ly như những truyền thống ngoại đạo, thì các tông phái Phật giáo Đại thừa, nhất là Mật tông, vẫn an nhiên thọ lạc như bao nhiêu người khác. Điều này có nghĩa là chúng ta không ngại đối đầu với dục lạc mà nhìn thẳng vào bản chất của dục lạc để tỉnh giác, và áp dụng trong đời sống tâm linh.”
    Đọc những luận điểm trên, thật sáng tâm sáng trí, đó không phải tri kiến thông thường của thế học kiểu giáo sư, tiến sĩ; mà là tri kiến Phật môn đích thực! Con chợt nhớ lời giáo huấn của thánh giả Gampopa: “Một khoảnh khắc của hiểu biết khởi ra từ thiền định thì quý giá hơn tất cả hiểu biết khởi ra từ nghe và suy nghĩ”. Nghe và suy nghĩ chính là học vấn thế gian, là học hàm học vị, tuy có giá trị nhất định trong đời này, nhưng không thể thay thế cho trí tuệ xuất thế gian vô lượng kiếp được! Cho nên vị tiến sĩ kia tỏ ra “thông cảm” cho sự “ít học” của Hòa thượng Tịnh Không, quả thật là…đáng sợ! Cứ theo câu nói ấy, ta cũng có thể “thông cảm” cho vị tiến sĩ như sau: “Ông ta lầm phương tiện (trình độ học vấn) là cứu cánh (kết quả thực hành) nên phát biểu theo ý chủ quan của mình khi chưa đắc Thánh quả cũng là điều dễ thông cảm…” (!)
    Nguyện cho tất cả chúng sanh đều tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ.
    OM AH HUM!
  25. Diệu Viên Nguyên says:
    Kính bạch Thầy!
    Con cảm tạ Thầy đã ban cho chúng con cùng chúng sanh hữu duyên bài Pháp nhũ quý giá. Con hy vọng sẽ có thật nhiều chúng sanh đọc được bài viết của Thầy để hiểu đúng thực chất vấn đề. Con nhớ tới lời khai thị của Ngài Liên Hoa Sanh Đại sỹ: “Bậc giác ngộ hiện thân dưới nhiều hình tướng bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, chuyên đội lốt tu hành. Các người đừng lầm cặn cho là vàng”.
    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô để đưa ánh sáng Phật Pháp đến muôn nơi.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều có đức tính khiêm tốn và một ý thức hổ thẹn.
    Om Mani Padme Hum.
  26. Mật Thái Dương says:
    Kính bạch Thầy,
    Con vô cùng hoan hỉ và tán thán công hạnh của vị Thầy đã từ bi mà khai thị cho chúng con hiểu thêm về thực chất của Thiền định cũng như thực nghĩa của “ly dục”.

    Thêm vào đó, những phân tích với luận chứng luận cứ đầy đủ rõ ràng, dựa trên Thánh ngôn từ Đức Phật của vị Thầy đã một lần nữa ban cho chúng con tinh thần vô úy khi trả lời cho câu hỏi “người tu tại gia có thể đạt được giác ngộ giải thoát hay không”

    “ tôi cần nhấn mạnh về lập luận của ngài Thích Nhật Từ khi cho rằng người tu tại gia không thể ly dục nếu có đời sống gia đình là sai lầm. Bây giờ tôi dùng tỉ lượng biện giải mà đối luận: theo cách tư duy của ngài là ly sắc dục (hoạt động tình dục vợ chồng hoặc nam nữ) gọi là đạt Sơ thiền, vậy dục lạc có 5 thì thử hỏi vị thầy tu trong chùa ly được một thì có đắc Sơ thiền không? Vì sao vậy, đời sống tự viện của bậc tỳ kheo không được vướng sắc dục nhưng họ vướng cái gì? Thầy tu dùng tiền mua xe hơi thì vướng gì? Thầy tu tranh nhau đến mức đấu đá để được làm trụ trì thì vướng gì? Thầy tu tham tiền đến nỗi bất chấp vai trò sứ giả Như lai để làm tên thầy bói, xem tử vi, coi ngày lành tháng tốt, cúng sao giải hạn, tụng kinh tụng đám thì vướng gì? Thầy tu tham quyền cố vị, ưa lập thành tích tượng to, chùa lớn thì vướng gì? Sao các vị đó không tìm cách ly dục đi? Vậy tôi xin hỏi những tỳ kheo đó có đắc định, chứng thiền không?”

    Từ đây con mới hay rằng có nhiều vị mặc dù được coi là những bậc tu hành lâu năm nhưng lại quên đi vai trò của một sứ giả Như Lai là dùng Bồ đề tâm để giáo hóa chúng sanh. Thay vào đó, họ chăm chăm đặt các loại “bẫy tâm thức” nhằm thể hiện cái tôi ngã mạn của mình, thậm chí là chia rẽ tăng đoàn và khiến người có ý nguyện tu học thêm bất an, lo sợ. Đó đích thực là một Ác tri thức.

    Con xin cầu nguyện cho ánh sáng của chánh pháp sẽ tỏa sáng muôn nơi.
    Cầu nguyện cho chúng sanh tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ.

    Om ah hum.

  27. Mật Diễm says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc bài viết và commen của các đạo huynh rồi ạ .Con cảm tạ ơn Thầy từ bi đã cho chúng con bài pháp thật ý nghĩa ,”đắt định -đắt Thiền khác với đắt quả sơ Thiền”.Con xin tán thán tin thần đã tà xuây chánh của các đạo huynh. Qua bài giúp chúng sanh , chúng con hiểu rõ mưu đồ của ác tri trức dù là có bằng tiến sĩ …hoc vị cao .Con cầu mong cho tất cả chúng sanh có
    đức tính khiêm tốn và ý thức hổ thẹn .
    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường
    thọ Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh .
    Cầu mong tất cả chúng sanh uống được tinh tí cam lồ.
    OM AH HUM
  28. Mật Mai says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này rồi thưa Thầy.
    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy và Cô
    Cầu mong s sanh tất cả chúng sanh uống được tinh túy cam lồ. Om mani padme hum!
  29. Mật Viễn says:
    Kính bạch Thầy!
    Đọc bài:« Cái bẫy của tâm thức». Con cảm thấy mình thật may mắn khi không bị rơi bẫy của tâm thức của người mà người đó có chức vị cao trong hội Phật giáo Việt Nam là tiến sỹ Thích Nhật Từ cho rằng chỉ có tăng, ni mới có thể tu tập, bác bỏ phü nhận đi đối tượng chiếm phần lớn đó là cư sĩ không tu tập được trong khi đó Đức Phật đã khẳng định:«Tứ chúng đồng tu». Đây là điều cơ bản mà sao một người có chức vị cao trong giáo hội Phật giáo Việt Nam là tiến sĩ Thích Nhật Từ không biết? Hay cố tình không biết để hạ thấp người khác để mình được cao hơn? Thật nghi ngờ về phẩm hạnh và trí tuệ của tiến sỹ TNT. Như vậy biết bao nhiêu người cư sỹ đã,đang nghe theo tiến sỹ TNT mất đi tinh thần vô uý và niềm tin vào Đức Phật dạy« ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành» mà trở thành nô lệ tâm linh, phục vụ cho mục đích thanh danh lợi dưỡng bản ngã của chủ nô tâm linh tà vậy. Đức Phật chỉ dạy:« Nghe ta mà không tin ta là phî báng ta».Thật tai hại!
    Nếu con không được Thầy trang bị chánh pháp của Đức Phật mà gặp phải bẫy tâm thức này là thï giờ đây chắc con cũng là một trong những nạn nhân của bẫy này.
    Con thành tâm cảm tạ ơn Thầy! Đã giúp con có được trạch pháp nhãn để phân biệt được đâu là chánh đâu là tà và tinh thần vô uý, niềm kiêu hãnh thiêng liêng của người con Phật là cư sĩ vững bước trên đạo trình giải thoát đời này an lạc đời sau cực lạc. Đời đạo song hành trong thời mạt pháp.
    Cầu nguyện sức khỏe sự trường thọ và đạo nghiệp đả tà xây chánh, dương cao ngọn cờ chánh pháp của Thầy, Cô _ Mật Gia Song Nguyễn được thành tựu viên mãn, cứu giúp chúng sanh hữu duyên thoát khỏi bẫy của ngục tù tăm tối vô minh,tà kiến.
    Cầu nguyện chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om Ma Ni Pad Me Hum.
  30. Mật Đức says:
    Kính Bạch Thầy
    Con đã đọc bài viết này rồi thưa Thầy.
    Con xin cảm tạ ơn Thầy đã từ bi khai thị cho chúng con thêm bài pháp vô cùng quý báu.
    Con xin tán thán với những comment đã tà xây chánh của các đạo huynh .
    Cầu mong cho tất cả chúng sanh thức tỉnh với trạng thái giác ngộ với những cam bẫy của bọn tà sư
    Om Ah Hum
  31. Mật Giác Phương says:
    Kính bạch Thầy!

    Con đã đọc bài viết cùng comment của các huynh đệ Kim Cang ạ!
    Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi khai thị cho chúng con và chúng sanh.

    Cầu nguyện cho ánh sáng của chánh pháp chiếu rọi khắp muôn nơi.

    Om Ah Hum.

  32. Tâm Châu says:
    Kính bạch Thầy,
    Con đảnh lễ tri ân Thầy đã cho chúng con và các bạn đọc một bài pháp phá mê khai ngộ.
    Thật nguy hiểm khi TT Thích Nhật Từ tiếp tục gieo rắc những quan điểm tà kiến như vậy.
    Con cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy Cô và các huynh đệ Mật Gia,
    Om Ah Hum,
    Học trò Tâm Châu.
  33. Mật Thiệu says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc xong bài này rồi thưa Thầy.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om mani padme hum.
  34. Mật Minh Trí says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này rồi ạ
    Con cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy và Cô vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
    Om Mani Padme Hum.
  35. Mật Tuệ Phúc says:
    Kính bạch Thầy!
    Con xin Quy y Đạo Sư, Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng cho đến khi giác ngộ tối thượng.
    Con cầu xin Bổn Tôn thông qua sự vận chuyển của vị Thầy gia hộ cho chúng sanh, mọi người trong gia đình con được hanh thông thế sự.
    Hỡi Đại sư Liên Hoa Sanh xin hướng tâm con về Phật Pháp,
    Hỡi các Bậc Toàn giác đừng để con lạc vào tà đạo thấp kém,
    Hỡi vị Thầy từ bi cùng với các Ngài chẳng khác xin để tâm đến con!
    Om Mani Padme Hum!
  36. Hoàng minh tâm says:
    Trọng kính bạch thầy . Con hoàng minh tâm nguyện là cái áo chánh kiến được mặc vào để chống lại gió chướng quỷ ma
  37. Mật Tuyết Hoa says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài này rồi ạ.
    Con xin cảm tạ tấm lòng bồ đề vì chúng sinh mà viết bài viết phá mê khai ngộ này. Con trước kia cũng có xem dĩa cd của TT Thích Nhật Từ, như may mắn sao nghe có chút là buồn ngủ rồi, nếu không thì cũng bận việc này việc kia mà bỏ ngang, nếu không thì giờ rác tâm thức của con chất ngất vì nghe theo ác tri thức.
    Con xin nguyện cầu sức khỏe và sự trường thọ đến Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Nguyện cầu ánh sáng Phật pháp chiếu sáng muôn nơi.
    Nguyện cầu chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Nguyện cầu tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Kính Thầy.

  38. Kính bạch Thầy,
    Con Mật Định Sơn ( Lê Sơn Hà ) đã đọc bài này rồi ạ.

  39. Phương Minh says:
    Đức Phật dạy : “Hãy lấy giới luật làm Thầy”, nên không thể có chuyện 1 vị vua sống phi giới luật, tận hưởng các dục lạc thế gian : Rượu chè phè phỡn, ăn cao lương mỹ vị, cung phi mỹ nữ đầy ắp bên mình…tu 1 pháp môn nào đó mà lại giải thoát được.
     Nếu Đức Phật Thích Ca biết đến pháp môn này, thì hẳn Ngài đã truyền dạy cho công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu La, để họ ở tại cung điện tu hành cho sung sướng. Ngài sẽ không để cho 1 vị công chúa tay yếu chân mềm và 1 vị hoàng tử còn bé bỏng phải cạo tóc, đắp y, sống cuộc đời rày đây mai đó, chịu dầm mưa dãi nắng, khất thực bữa đói bữa no… hằng chục năm trời mới đạt được sự giải thoát.
    • Chánh Tri says:

      Gửi Phương Minh!
      Thế nào là khái niệm 8,4 vạn pháp môn? Thế nào gọi là căn cơ dị biệt nên phương pháp cần đa dạng? Thế nào là giới luật làm Thầy nhưng giới luật có 4 phạm trù và 3 phương diện Phương Minh hiểu hết? Nói như bạn làm gì có đại sỹ Liên hoa sanh và nhiều tấm gương thành tựu giả Kim cang thừa? Lẽ nào các ngài ấy không hiểu giới luạt làm Thầy sao? Thôi được cho rằng có hành trạng như bạn khẳng định thì thử hỏi bạn làm được gì, sản phẩm trí tuệ nào, bài viết về Phật học nào chưa? Các vị tăng ni đã làm được gì chưa qua chiếc áo và cái đầu của họ hay là hàng trăm vụ scandal. Nếu bạn nói Phật dạy lấy giới luật làm Thầy sao bạn không đề cập sự phủ nhận địa ngục và chê bai hạng cư sĩ mà trong đó có bạn. Đây là lời Phật dạy ” duy tuệ thị nghiệp” chớ không phải đi đâu, hành xác như thế nào? Hãy đoc bài ” Thế nào là thiện tri thức sẽ hiểu”!. Thầy đề nghị học trò Mật gia tác pháp chiếu quang cho Phương Minh để họ “minh” ra một chút!

    • Mô Phật!
      Kính Bạch Thầy, con đã đọc comment của Phương Minh và những lời cảnh tỉnh vị Thầy dành cho bạn đọc ấy. Nương theo oai thần Đạo Sư, Bổn Tôn, Dakini, con muốn có đôi lời đối luận với bạn đọc Phương Minh. Những luận giải của con có điểm nào chưa đúng với quỹ đạo Chánh Pháp, xin Thầy nghiêm giáo và cho con được tịnh hóa.
      Chào Phương Minh!
      Tôi là Mật Hạnh Giác, đệ tử Đạo Sư Thinley Nguyên Thành, dòng phái Ninh mã, pháp hệ Quán Thế Âm, đạo tràng MGSN muốn có đôi lời với bạn xoay quanh vấn đề bạn đặt ra trên trang mạng chanhtuduy.com. Mong bạn hoan hỷ đón nhận.
      Thứ nhất, ngày hôm nay là mùng 6 Tết Âm Lịch, tức là cũng hết Tết rồi, nhưng vẫn còn người “phóng nhanh vượt ẩu” đến mức không thèm đọc Thư Ngỏ của trang mạng chanhtuduy.com mà vào nơi đây không danh không phận mà phát biểu. Từ “phóng nhanh vượt ẩu”, Phương Minh còn “phóng tâm” theo ý mình bởi những luận kiến hết sức chủ quan về mặt Phật Học. Trong khi Phương Minh là ai? Không pháp danh, tông phái, đạo tràng mà nói chuyện Phật Học như đúng rồi. Nói theo kiểu thế gian là đến tư cách vào nhà ngươi ta chúc Tết đầu năm còn không có. Xin lỗi nhưng ở đây không phải như nhiều “chùa” để phường bán nhang, bán vé số vào ra vô lối thế nào cũng được.
      Tiếp theo, người xưa có nói “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, ngày từ đầu Phương Minh không có lễ, không có chút lịch sự nào thì muốn “văn” gì nữa ở đây. Chưa hết, bài viết của vị Thầy Mật Giáo đối luận trực tiếp với Tiến Sỹ Thích Nhật Từ. Có bao giờ người lớn bàn chuyện mà để con nít nhảy vào không thưa không gửi mà bàn chuyện không? Thêm vào đó, Ts. Thích Nhật Từ đã bao tháng năm im hơi lặng tiếng trên văn đàn, đã không phản ứng gì trước những lập luận theo quỹ đạo Chánh kiến của vị Thầy. Vậy Phương Minh có phải học trò ông ấy không hay là tiến sỹ phương nào mà giờ mới có ý kiến?
      Thứ hai, bàn về những gì Phương Minh viết. Bạn trích lời Đức Phật dạy trong kinh Di Giáo “Hãy lấy giới luật làm Thầy”.  Vậy tôi xin hỏi bạn, “làm Thầy” là làm như thế nào, bằng cách nào bạn học được gì từ Giới Luật? Trong khi như Luận SƯ Darhmakiti có nói, một người Thầy là người biết dạy cho đệ tử:
      1/ Biết đúng những đối tượng cần tử bỏ
      2/ Biết thấu đáo phương pháp để từ bỏ chúng
      3/ Biết đúng đối tượng cần thực hành
      4/ Biết thấu đáo phương pháp để thực hành chúng
      5/ Truyền thụ cho học trò với lòng bi mẫn.
      Tựu chung, một người Thầy như vậy giúp cho học trò biết “Duy Tuệ Thị Nghiệp”(dùng trí tuệ làm nghiệp) như lời Phật dạy trong kinh Bát Đại Nhân Giác. Lời dạy của Phật vốn dĩ không sai nhưng ông bám chấp vào đó một cách cứng nhắc thì sẽ xa rời tôn chỉ dùng trí tuệ làm nghiệp của Ngài. Ông lấy Giới Luật làm Thầy cũng không sai, nhưng ông có đủ căn cơ để từ Giới Luật mà thấy đủ 4 điều trên, để tích tập được 3 yếu tính Giác Ngộ là Xả Ly, Bồ Đề Tâm và Tánh Không hay không? Ông có tự tin mình hiểu được tất cả Giới Luật nhà Phật mà áp dụng? Trong khi rất nhiều giới luật nhà Phật vốn dĩ Ngài chế định thêm để phù hợp với tính Quốc Độ, Dân Tộc và Thời Đại ở thời điểm đó.
      Thêm vào đó, Đức Phật chế định giới luật khác nhau giữa hàng tỳ kheo và hàng cư sĩ. Phương Minh là tỳ kheo hay cư sĩ mà “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” như vậy. Rất nhiều giới như “không quan hệ nam nữ” với hàng tỳ kheo thì ở hàng cư sĩ là “không tà hạnh trong quan hệ giới tính”, hoặc như tỳ kheo không được uống rượu thì với hàng cư sỹ là “không lạm dụng các chất các thứ gây nghiện”. ..Có nói rằng phương pháp sư phạm phải được áp dụng đúng với đối tượng sư phạm mới phát huy được hiệu quả sư phạm. Đức Phật là một nhà sư phạm đại tài, lẽ nào Ngài muốn giới luật của Ngài áp dụng tùy tiện vô lối cho không đúng đối tượng để chúng sanh khổ đau hay sao? Hay Phương Minh là ai mà nghĩ rằng mình còn thông tuệ hơn cả Đức Phật, trong hoàn cảnh này là hơn cả một vị Thầy Mật Giáo về vấn đề giới luật?
      Ngay chính trong kinh Di Giáo mà ông trích ra, Đức Phật cũng vô cùng nhấn mạnh vai trò của “Duy Tuệ Thị Nghiệp”:
      “Này các đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và dò xét, nhờ đó mà người ấy có khả năng giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không xứng danh là bậc xuất gia…Người có trí tuệ soi chiếu thì dẫu là mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản chất mọi vật.”
      Như vậy, xin hỏi Phương Minh, ông thấy có những tỳ kheo mặc dù cũng giữ giới nghiêm khắc đấy, nhưng thay vì không uống rượu thì họ hút thuốc, thay vì không sát sanh thì họ tuyên truyền đủ loại Tà Kiến như dân sao giải hạn, phong thủy, tử vi,… làm tổn hại đến Huệ mạng chúng sanh, làm chúng sanh điên đảo sợ hãi những điều vô lý…Như vậy dù họ giữ 250 giới đấy nhưng theo lời Phật dạy thì có còn xứng là bậc xuất gia nữa hay chăng?
      Tựu chung, Phương Minh muốn lấy giới luật làm Thầy thì phải có sự “Duy Tuệ Thị Nghiệp”. Nếu không e rơi vào tình trạng “Y Ngữ bất Y Nghĩa” mà Tứ Y Cứ, Phật đã cảnh báo, hay tình trạng nặng nề hơn là Chấp Pháp mà thôi. Chính vì vậy, Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Phật có dạy: “Cần phải cầu minh sư thì sự học đạo mới thông lý đạt đạo”. Nhờ có sự chỉ dẫn từ một vị Thầy mà ta mới Biết những gì cần biết/ xả ly những gì đáng xả ly/ Tu pháp nào đáng để tu. Nói theo một cách khác theo góc độ Giới Luật đó là sự áp dụng Giới Luật phù hợp với tính Quốc Độ, Dân Tộc, Thời Đại, đúng với đối tượng sư phạm mà phát huy cao nhất hiệu quả sư phạm.
      Thứ ba, trở lại vấn đề Phương Minh đặt ra, một vị vua hưởng đời sống thế gian giàu sang, vây quanh bởi dục lạc có thể giải thoát được hay không?
      Như đã nói ở trên, đối tượng sư phạm chỉ cần có phương pháp thích hợp thì sẽ phát huy hiệu quả sư phạm. Nhà Toán học Decardes đã khẳng định rằng “Không có phương pháp, thiên tài cũng lỗi, có phương pháp, người thường cũng làm được việc phi thường”. Đó là lí do Đức Phật thuyết 84.000 pháp môn cho đủ các loại chúng sanh với căn cơ và hoàn cảnh khác nhau. Phương Minh tự bó hẹp 84.000 pháp môn của Đức Phật phải ly dục, phải xuất gia mới được gọi là pháp môn là một sự khinh suất trầm trọng. Nói như người đời “lấy dạ tiểu nhân mà đem đo lòng quân tử” thì ở đây chẳng khác nào “lấy cái ngu si của phàm phu mà đo lường trí tuệ Bậc Toàn Giác”!
      Các Mật điển khảng định “Ngũ Dục vốn không có hại, tại hại là ở chỗ bám chấp vào chúng”. Vị Thầy Mật Giáo nhấn mạnh đến sự CHUYỂN HÓA Ngũ Dục. Tức từ Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy mà thành Ngũ Trí Như Lai. Hơn thế nữa, nếu như phải lìa sắc dục mới có thể viên thành đạo quả thì tức là Phương Minh phỉ báng tất cả những ai là cư sĩ, sống đời sống vây quanh bởi Ngũ Dục! Phương Minh chắc chắn đã phạm lỗi trầm trọng là “chia rẽ Tăng Đoàn” bởi lập luận khinh suất chủ quan của mình.
      Ngay chính trong bài viết, vị Thầy đã trích dẫn ra rất nhiều tấm gương của các bậc cư sĩ với thành tựu kiệt xuất như ngài Duy Ma Cật, ngài Lý Bỉnh Nam, Thầy của hòa thượng Tịnh Không, Ngài Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng, Đạo Sư Dilgo Khyentse sống đời sống gia chủ mà ngay cả Đức Đại Lai Lạt Ma cũng kính ngưỡng. Đặc biệt là Đức Liên Hoa Sanh Đại Sỹ , một vị cư sĩ có đời sống gia đình và là sơ tổ của Mật Tông Tây Tạng….Đọc đến những tấm gương, những công hạnh đáng trân trọng của các Ngài mà Phương Minh không một lời tán thán. Tựu chung, ông chỉ toàn tìm lí lẽ để dìm hàng họ vào vòng xoáy Ngũ Dục. Hay là ông chìm trong đó rồi nên ông tưởng ai cũng như mình?
      Cuối cùng, Phương Minh phỉ báng tấm lòng từ bi của Đức Phật khi ngầm cho rằng Ngài để cho công chua Da Du Đà La và la Hầu La vất vả thay vì chỉ cần sống đời vương giả tiện nghi. Lối lập luận của ông nguy hiểm ở chỗ đầu tiên, ông cho là Đức Phật có vợ con nên vợ con Ngài phải ưu tiên hàng đầu?! Đức Phật khi còn là Thái Tử Tất Đạt Đa thì còn có vợ con nhưng khi đã là Phật rồi thì Ngài không còn luyến ái thế gian nữa. Ông bảo Đức Phật phải ưu tiên cho vợ con tức là ngầm bảo Đức Phật còn luyến ái ! Là một sự phỉ báng Phật vô cùng trầm trọng. Trong khi với Ngài, công chúa da Du Đà La và La Hầu La cũng chảng khác gì hơn là những đệ tử bình thường. Và tôi cũng nhắc lại cho ông nhớ rằng, Công chúa Da Du Đà la và La Hầu La đã PHÁT NGUYỆN đi theo con đường đó chứ hoàn toàn không phải Đức Phật bảo họ. Ông là ai mà cho rằng mình còn từ bi hơn cả Đức Phật mà biết điều gì tốt nhất cho học trò Ngài?
      Tôi thành thật khuyên rằng Phương Minh “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Vui lòng ông xem lại ông lấy giới luật làm Thầy theo lối tư duy kiểu gì mà cuối cùng thành ra phỉ báng Đức Phật, chia rẽ Tăng Đoàn như thế kia? Có nói rằng người tu giữ Giới để sinh Định, từ Định sinh Tuệ, nhìn cái Tuệ của ông là quá đủ để biết ông giữ Giới nó “Minh” đến mức độ nào rồi. Mong cho Phương Minh quán xét để sữa chữa lỗi lầm phỉ báng trầm trọng của mình trước khi quá muộn.
      Cầu nguyện cho sức khỏe Thầy Cô vì lợi lạc và hạnh phúc chúng sanh.
      Nguyện cho chúng sanh có một đức khiêm nhường và tính hổ thẹn.
      Om Ah Hum.
       

    • Mật Thủy says:
      Nói như Phương Minh tưởng đâu mình hay, lý luận giỏi, nào ngờ chỉ càng làm lộ ra tâm ý bất kính, phỉ báng Đức Phật, chê bai giáo pháp, chia rẽ tông phái của ông thôi! Ông biết gì về giới luật nhỉ? Ngay cả tư cách Phật tử, pháp danh không có thì làm sao bàn chuyện Phật pháp, cũng như kẻ mù sờ voi mà thôi! Nói như ông thì tại sao bao nhiêu kẻ cạo đầu đi tu, sống kham khổ mà mãi trí tuệ không khá lên chút nào vậy? Ngược lại còn có bao nhiêu ác tăng ra vẻ đạo hạnh lừa gạt chúng sanh, làm điều tà vạy đó thôi! Cạo đầu, sống kham khổ, rày đây mai đó chỉ là hình thức bên ngoài thì làm sao mài giũa được cái tâm bên trong, làm tăng trưởng trí tuệ? Cũng như  chùi rửa cái chậu ở phía bên ngoài, làm sao bên trong chậu sạch cho được?
      Tôi cầu nguyện cho ông sớm ăn năn sám hối những phát ngôn ngông cuồng của mình để giảm bớt hậu họa sắp tới!
       
      Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đóng lại cánh cửa đi vào các cõi thấp!
      • Mật Huệ Pháp says:
        Mô Phật,
        Kính bạch Thầy
        Con đã đọc những dòng bình luận của bạn đọc Phương Minh. Con xin phép Thầy cho con có đôi lời với bạn đọc này. Nếu có gì sai sót, ngưỡng mong Thầy từ bi cho con sám hối và tịnh hóa lỗi lầm này.
         
        Gửi bạn Phương Minh
        Tôi là Mật Huệ Pháp, đệ tử của Đạo sư Thinley Nguyên Thành. Tôi đã đọc những lời bình luận của bạn và muốn trả lời những ý của bạn như sau:
         
        Ý thứ nhất, bạn khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng: “Đức Phật dạy: “Hãy lấy giới Luật làm Thầy”, nên không thể có chuyện một vị vua sống phi giới luật, tận hưởng các dục lạc thế gian: Rượu chè phè phỡn, ăn cao lương mỹ vị, cung phi mỹ nữ đầy ắp bên mình… tu một pháp môn nào đó mà lại giải thoát được.”
         
        Thứ nhất bạn đã phạm phải lỗi tự tin tâm ý mình như Kinh Kalama đã cảnh báo. Sao bạn biết vị vua đó sống phi giới luật? Thế nào là phi giới luật thì bạn chưa giải thích được mà chỉ khẳng định “chắc cú” rằng cứ là vua thì sống phi giới luật vậy à.
         
        Thứ hai, bạn cho rằng vị vua đó “tận hưởng dục lạc thế gian: rượu chè phè phỡn, ăn cao lương mỹ vị, cung phi mỹ nữ đầy ắp bên mình..”: Bạn comment vào bài viết này hẳn bạn đã đọc bài viết đó. Vậy sao bạn không để ý phần luận giảng cực kỳ chi tiết của tác giả bài viết về thực nghĩa của dục và làm như thế nào để gọi là xả ly dục đúng cách, trong đó có trích dẫn bài kệ không thể chuẩn mực hơn của Phật Hoàng Trần Nhân Tông rằng:
        “Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
        Mắt theo hình sắc, mũi đưa hương
        Bôn ba làm khách phong trần mãi
        Ngày hết, quê xa vạn dặm trường”
         
        Như vậy, điều mà tác giả bài viết muốn nhấn mạnh rằng đối với những người tu (cho dù là xuất gia hay tại gia), việc xả ly về tướng không quan trọng bằng xả ly về tánh. Nếu bạn cho rằng vị vua vì tận hưởng dục lạc thế gian nên không thể tu giải thoát được bằng chỉ một pháp môn vậy bạn có dám khẳng định rằng những thầy tu xuất gia trong đường link bài báo sau đây có tiến tu giải thoát được hay không? (http://phunuonline.com.vn/xa-hoi/tin-tuc/gui-con-vao-chua-xin-don-ve-bi-su-tru-tri-doi-100-trieu-tien-chuoc-84554/). Miệng thì nói nuôi con hộ người mẹ đang gặp hoàn cảnh khó khăn, ra vẻ từ bi lắm, nhưng đến khi người mẹ xin lại con thì đòi 100 triệu? Tệ hơn nữa cháu bé đó lại bị nhà sư này bị đổi tên và biến thành trẻ mồ côi. “Khi đăng kí đổi tên, vị sư đó đứng tư cách là mẹ đẻ???” Đó, không “rượu chè phè phỡn”, không “cung phi mỹ nữ đầy ắp bên mình”, “không cao lương mỹ vị” nhưng liệu bạn có dám khẳng định vị tỳ kheo này không vi phạm giới luật?
         
        Từ đây suy ra tại gia hay xuất gia, điều đó không quan trọng, quan trọng là phải biết xả ly đúng cách như Ngài Tilopa đã diễn giải trên nền tảng Mật thừa rằng: “Ngũ dục tự chúng không gây hại, lỗi lầm là ở chỗ thái độ của người thọ lạc đối với chúng.” Trong tác phẩm: “Quán Thế Âm Bồ tát tín luận”, Hải Tín cư sĩ khẳng định: “Có tiền là có quyền hưởng sự sung sướng về vật chất. Có danh phận là có quyền hưởng sự kính trọng của người đời. Pháp Quán Thế Âm Bồ Tát không phải tạo ra một tinh thần bi quan hay lạc quan. Người tu biết rõ vị trí của mình trong đời, nên sống với những gì mình có có được và hưởng những gì mà mình có quyền hưởng.” Bạn nên nhìn vào những cụm từ mà Hải Tín cư sĩ dùng như: “biết rõ vị trí của mình” hay “sống với những gì mình có được” hay “hưởng những gì mà mình có quyền hưởng.” Có nghĩa rằng thụ hưởng cuộc sống với thái độ chân chính, không bám chấp bon chen, đòi hỏi, ham muốn những điều vượt quá khả năng của mình, đó mới chính là thái độ thọ lạc theo đúng quỹ đạo chánh pháp. Vì vậy, người thường có quyền thụ hưởng những gì trong tầm tay họ đạt được, thì vị vua cũng không có lý do gì thụ hưởng những gì mà vị thế của ông ta đem lại, miễn sao ông ta không bám chấp sâu xa vào những dục lạc đó.
         
        Phật Pháp có 84.000 pháp môn, trong đó Đức Phật đã từ bi định chế ra những giới, pháp dành riêng  cho tỳ kheo và cư sĩ bởi mỗi đối tượng cần phải áp dụng phương pháp riêng phù hợp với không gian, môi trường sống, quan hệ xã hội của họ. Ví như trong 5 giới truyền thọ khi Quy y cho hàng cư sĩ tại gia, Đức Phật khuyên không được “lạm dụng các chất gây nghiện” (cần hiểu là được sử dụng chứ không lạm dụng” trong khi đối với tu sĩ, Ngài lại dạy rằng: “Không được uống rượu” (cấm uống rượu). Hay giới thứ 3 trong 5 biệt giới giải thoát là “cấm tà dâm” chỉ dành cho cư sĩ có đời sống vợ chồng trong khi giới cho hàng tỳ kheo là “cấm dâm dục”. Rõ ràng những đối tượng khác nhau sẽ có những giới luật và pháp tu khác nhau, điều này hoàn toàn hợp lô gic giống như bác sĩ phải bắt mạch kê toa cho những đối tượng bệnh nhân riêng biệt, không thể kê thuốc đau tim cho bệnh nhân bị đau mắt được. Vì vậy lẽ tất nhiên với một thường dân với môi trường riêng biệt sẽ có một pháp tu riêng biệt, với một vị vua trong một quốc độ, dân tộc riêng cũng sẽ có một pháp tu phù hợp riêng. Do đó, việc Phương Minh nhận định rằng đã là vua thì không thể tu một pháp môn mà giải thoát là sự phiến diện, thiếu chánh tư duy trong ứng dụng thực hành giáo lý Phật đà. Vì sao tôi khẳng định như vậy, vì rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng trả lời trong một bài phỏng vấn rằng:” Một khi chúng ta đạt được sức mạnh nội tại và tự tin, thế giới và môi trường bên ngoài có thể trở thành sự thực hành của chúng ta. Môi trường càng khó khăn, sự thực tập của chúng ta các phát triển và tiến triển hơn.” Điều này cũng trùng hợp với nhận định của Pháp vương Gyalwang Drukpa thứ 12 đại ý rằng nếu năng lực nội tại của người tu cư sĩ đủ mạnh, họ sẽ giác ngộ tốt hơn rất nhiều.
        Quan trọng là để pháp tu đó đạt hiệu quả cao nhất, chúng cần được truyền dạy từ một vị Đạo sư chân chính (Minh sư), người mà luận sư Dharmaki mô tả rằng “biết những đối tượng cần xả ly, biết thấu đáo các phương pháp xả ly, biết những đối tương cần thực hành, biết trọn vẹn phương pháp thực hành chúng, và đặc biệt phải truyền thụ kiến thức tới học trò với một lòng bi mẫn.”
         
         
         
         
        Ý thứ hai ông viết rằng “Nếu Đức Phật Thích Ca biết đến pháp môn này, thì hẳn Ngài đã truyền dạy cho công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu La, để họ ở tại cung điện tu hành cho sung sướng.” Tôi không tán thành với bạn về quan điểm này. Tu Phật là tu tự giác, tự nguyện, không ai ép buộc ai. Khi Đức Phật đắc đạo trở về Hoàng Cung, Da Du Đà La đã ngưỡng phục trước giáo lý uyên thâm của Ngài mà tự nguyện xuất gia và thành lập ni đoàn và bà cũng cho con trai là La Hầu La xuất gia theo Phật bởi “Không phải chỉ trong kiếp sống cuối cùng của Như Lai mà trong tiền kiếp, nàng đã bảo vệ, kính mộ và trung thành với Như Lai.” Vì thế giả như công chúa và con trai có không xuất gia theo Đức Phật đi chăng nữa nhưng nếu họ có lòng tu học Phật pháp, chắc chắn Đức Phật cũng sẽ có những pháp tu riêng giành cho họ.
         
         
        Cuối cùng, tôi muốn làm rõ cho Phương Minh về tôn chỉ của Đức Phật dành cho các đệ tử:”Duy tuệ thị nghiệp” thông qua lời dạy của thánh tăng Gampopa: “Tu đúng cách quan trọng hơn chính việc tu. Nếu không thì chính việc tu sẽ là nguyên nhân bị đọa lạc.”
        Cầu nguyện chúng sanh luôn tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ
         
        Om Ah Hum
  40. Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc nội dung comment của Phương Minh và hồi đáp của Thầy tới bạn đọc này. Dưới đây còn xin nhờ theo trí tuệ của Thầy, Đạo sư, Bổn tôn, Dakini để gửi tới bạn đọc này đôi dòng. Những nội dung con trình bày chưa đúng quỹ đạo chánh pháp còn xin Thầy từ bi khai thị và cho con tịnh hoá lỗi lầm. Con xin cảm tạ ơn Thầy!

    Gửi Phương Minh!
    Tôi là Mật Quốc Sanh, hành giả Phật giáo Mật tông Tây Tạng, học trò của Đạo sư Thinley Nguyên Thành. Tôi đã đọc những nội dung bạn phản hồi, dưới đây tôi gửi tới bạn đôi dòng:
    Trước hết, bạn mở đầu bằng việc trícho dẫn lời dạy của Đức Phật rằng “Hãy lấy giới luật làm Thầy”, nhưng bạn có hiểu rằng đây là lời Thế tôn dạy cho hàng đệ tử của Ngài. Phương Minh có phải như vậy không? Không, bởi không có pháp danh, không có trụ xứ tâm linh, dòng phái,…thì lấy gì ra để bảo chứng đây? Đã không phải là Phật tử chân chính với sự có khai minh bạch rõ ràng như vậy thì Phương Minh được ai truyền giới để mà giữ đây?
    Tiếp đến, chanhtuduy.com là một diễn đàn Phật giáo Mật tông, có thành quy cụ thể tại http://chanhtuduy.com/gioi-thieu/ nhưng Phương Minh lại không thực hiện theo đúng như vậy mà còn trích lời dạy về giới luật nữa thì khác chỉ thế gian nói “tự vả miệng mình”? Đây là mình chứng rõ ràng, xác thực nhất cho những kẻ rêu rao trì giữ giới luật mà không hiểu giới luật thế nào, không biết đến 4 phạm trù, 3 phương diện về giới! Đây cũng là mình chứng về những kẻ miệng nói mà không thực hiện, trị hành bất nhất.
    Nhận thấy từ hai điểm trên phơi bày trình độ tâm linh, thủ đoạn Nhạc Bất Quần của Phương Minh rồi, thiết nghĩ không cần phân tích thêm. Tuy nhiên, theo lời dạy của vị Thầy từ bi nhằm tác pháp chiếu quang cho ông “mình” ra một chút, tôi tiếp tục như sau:
    Thứ nhất, ông nói về vị vừa song phi giới luật nhưng ông có hiểu gì về giới của thầy tư cư sĩ và tự sĩ là khác nhau chăng? Dựa vào đâu ông cho rằng sẽ không có pháp môn nào phù hợp với một người chỉ vì việc ăn uống, hưởng lạc những gì họ đáng được hưởng? Nếu nhìn bằng con mắt phẩm phù, chấp vào hình tướng như vây thì làm sao ngài Trừ Cái Chướng Bồ tát có thể cầu thần chú Lục tự đại mình ở người bán cá thành Ba là nại như trong Đại thừa Trang nghiêm bảo vương kinh? Làm sao Đại sỹ Liên Hoa Sanh thành sơ tổ Phật giáo Mật tông Tây Tạng, truyền dạy giáo pháp cho vừa Trisong Deutsen và xứ Tây Tạng? Phương Mình không nói thì thôi, nói ra đủ khẳng định rồi đó!
    Thứ hai, bạn cho rằng một tu pháp phù hợp với tất cả chúng sanh có hoàn cảnh tương đồng thì đây là quan kiến sai lầm và xấu ác theo lời dạy của Đức Kim Cang Trì III rồi đó. Đối tượng sư phạm khác nhau, làm sao phương pháp sư phạm đồng nhất? Từ đây, bạn lại gỉeo nhân phỉ báng chư Phật vì cho rằng Ngài không biết pháp môn hay không bình đẳng khi truyền dạy chúng sanh rồi đó. Đây gọi là nhân địa ngục mà tiến sĩ Thích Nhật Từ phủ nhận và bạn hùa theo!
    Đối với những hành giả Mật thừa, chúng tôi thực hành pháp theo lời dạy của vị Thầy tâm linh, trong đó tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” có dẫn lời nhận xét của đạo sư Khetsun Sangpo Rinpoche rằng: “Mật thừa giống như một căn nhà giữa cánh đồng rộng mà chúng ta có thể vào từ bất kỳ hướng nào: đông, tây, năm, bắc. Hành giả không bị bắt buộc phải vào từ lối nào, vì có đầy đủ pháp môn thích hợp cho từng hạng người”. Mật thừa bao la trong phương tiện nhưng như người đi trong hang quay về hướng Bắc không thấy ánh mặt trời, bạn cũng vậy đó!
    Đôi lời gửi tới bạn.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh uống được tính túy cảm lồ!
    Om Mani Padme Hum!

  41. Mật Tịnh Tâm says:
    Kính bạch Thầy,
    Xin phép Thầy cho con có vài lời với bạn đọc Phương Minh ngạo mạn, biên kiến này.
    Này Phương Minh (PM),
    Tôi thật bất ngờ khi PM đề cao giới luật, mà chính ông lại không biết thúc liễm thân tâm. Đến nổi ngạo mạn vào nhà “Duy Ma Cật” của Đạo Sư Mật Giáo mà không thưa hỏi, xưng pháp danh, đạo tràng của mình. Tư cách như vậy không biết xấu hổ mà còn nhắc lời Thế Tôn:”Hãy lấy giới luật làm Thầy”? Đức Phật dạy học trò Ngài tu tập theo “trung đạo” không phải hành thân, ép xác. Vì chính từ kinh nghiệm tu tập của Ngài, khổ hạnh không thể phát sanh Trí tuệ giải thoát. Lại nữa, tri kiến Phật ông quá ít ỏi, chỉ biết đến phương pháp tu tập cho giới xuất gia, còn giới tại gia thì ông không hề biết? Ông có biết những cư sĩ tại gia có trí tuệ phi phàm như Đại sĩ Liên Hoa Sanh, Ngài Duy Ma Cật, cư sĩ Lý Bỉnh Nam, cư sĩ Hàn Hải Tín…Họ là những bậc long tượng trong nền Phật học, không ít người là bổn sư của những học trò xuất gia xuất sắc.
    Hãy nghe thánh giả Tilopa giảng:”Dục lạc bản thân chúng không có tội, tội là do người thọ hưởng lạm dụng chúng”. Thì những gì mà ông nói rượu chè phè phởn, cao lương mỹ vị, cung phi mỹ nữ chỉ làm hư hại đạo hạnh, chỉ khi tâm người tu tham đắm, lạm dụng, trường hợp này không đúng với tinh thần “Thọ lạc nhưng tâm không chìm trong lạc” của người thực tu. Ông cứ ôm khăng khăng cái biên kiến tu khổ hạnh, e rằng phương tiện chưa phong phú đủ để trợ duyên chúng sanh, ngay cả Lục tổ Huệ Năng là người xuất gia mà còn dạy họ trò Ngài rằng:” Lìa thế gian mà tầm cầu Giác ngộ thì chẳng khác chi tìm lông rùa, sừng thỏ!”. Vậy theo ông hình tướng nào sẽ dễ “tùy thuận chúng sanh” hơn? Xuất gia hay tại gia? Ăn uống đơn sơ hay ăn chay? Cạo đầu hay có tóc? Do vậy ông không nên chấp vào hình thức, mà quên cốt lõi của người tu là “Duy tuệ thị nghiệp”, chứ không phải ăn hay không ăn, ở hay không ở để mà lập nghiệp.
    Vì bám chấp như vậy ông cho rằng “Nếu Đức Phật Thích Ca biết đến pháp môn này, thì hẵn Ngài đã truyền dạy cho công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu La, để họ ở lại cung điện tu hành cho sung sướng”. Tôi thật rùng mình cho cho nhận xét chủ quan của ông, đây là thái độ khinh suất, trái với lời dạy Thế Tôn “Chớ tin vào tâm ý mình khi chưa đắc Thánh Quả”. Sao ông biết rằng Thế Tôn không biết phương pháp tu tập cho người tại gia? Như Lai khế lý, khế cơ, tùy theo căn cơ của học trò mà Ngài dạy đạo, ông là ai mà dám suy đoán là Ngài biết cái này, không biết cái kia? Thật hồ đồ!
    Ông hãy đọc bài mà Thầy tôi đã dạy, để trang bị thêm Chánh kiến, chứ không khéo cứ nhìn thấy đầu trọc áo vuông lầm nghĩ rằng họ là Thiện Tri Thức, theo nhầm tà sư thì uổng phí kiếp người.
    Cầu nguyện chúng sanh tỉnh thức và chánh niệm!
    Trò đảnh lễ Thầy!
    Om Mani Padme Hum
  42. Gửi Phương Minh!
    Không biết Phương Minh là ai mà vào Chanhtuduy.com không chào, không hỏi vô lễ như một kẻ thất phu như thế? không biết thầy của bạn là ai mà không dạy bạn điều cơ bản này!? Thật tội nghiệp cho Thầy ấy khi có một học trò như bạn. Thái độ bất kính này nếu bạn nhằm vào bậc Đạo sư Mật giáo thì hậu quả thật kinh khủng bởi Đạo sư Mã Minh đã xác quyết:
    “Nếu khinh vị Thầy vì thiếu hiểu biết.
    Thuốc độc, tai ương, bệnh truyền nhiễm.
    Những thứ này gây khổ đau khôn xiết
    Trong đời này và cả vạn kiếp sau.”
    Còn bạn nói vua Ba tư nặc là một vị vua sống phi giới luật, rượu chè phè phỡn… là trong Kinh điển nào ghi lại? Hay là do bạn muốn lợi cho luận điểm của mình nên nói bừa, nói càn.. cho đã cái miệng của mình thôi!?
    Còn nữa, bạn đã mang tội chê bai giáo pháp vì không biết trong giới luật ngoài Biệt giới giải thoát cá nhân còn có giới nguyện Bồ đề tâm và Giới nguyện Mật giáo, ngoài Tiểu thừa còn có Đại thừa Hiển giáo và Đại thừa Mật giáo. Tất cả giáo pháp đều có cùng một vị giải thoát, sao bạn lại hồ đồ cho rằng các pháp ấy không tồn tại chỉ vì lý do đức Phật không truyền dạy nó cho công chúa Da du đà la và hoàng tử La hầu la!? Đức Phật có vô lượng pháp môn, hằng ha sa số đệ tử là chư Đại Bồ Tát, Thánh Tăng… bạn có biết hết không mà dám hàm hồ nói xiên nói vẹo như vậy!?
    Đôi lời nhắn gửi đến bạn. Mong bạn hãy hồi quang tự kỷ, sám hối lỗi lầm của mình mà khỏi đoạ lạc vào ba cõi thấp.
    Om Mani Padme Hum.

  43. Mật Viễn says:
     
    Kính bạch Thầy!
     
    Con đã đọc comment của Phương Minh và comment của vị Thầy.
    Con xin được có một vài ý kiến với bạn Phương Minh theo quan kiến Phật Đà. Có gì con viết chưa đúng với quỹ đạo chánh pháp cầu xin Thầy từ bi chỉ dạy. Con cảm tạ ơn Thầy!
    Chào bạn Phương Minh!
    Tôi là Mật Viễn đệ tử của Đạo sư Thinley Nguyên Thành – Giáo thọ Tuệ tri thức, dòng phái Ninh Mã, pháp hệ Quan Thế Âm, đạo tràng Mật Gia Song Nguyễn. Tôi có đôi dòng chia sẻ về comment của bạn theo lăng kính Phật Đà như sau:
    1. Không đủ tư cách bàn luận Phật Pháp

    Tôi không biết bạn từ cõi nào đến trái đất này mà thấy bạn không đủ tư cách của một con người. Một con người bình thường có tư cách, có đạo đức khi bước vào nhà một ai đó cũng phải chào hỏi, giới thiệu về bản thân, rồi mới trình bày ý kiến của mình. Chỉ có những kẻ không tư cách, không có đạo đức như kẻ trộm cắp mới âm thầm, im lặng ra vào nhà người khác không chào hỏi, không giới thiệu bản thân.

    Còn về tư cách của người muốn đàm luận về Phật Pháp, trước tiên phải có trình độ về Phật học mà trình độ đó được thể hiện qua sản phẩm trí tuệ. Người muốn thưởng thức, phê bình nghệ thuật phải là người có trình độ về nghệ thuật. Mà ngay tên của bạn là Minh Phương là tên của người thế gian phàm phu chứ không phải pháp danh của Phật tử đừng nói gì đến sản phẩm trí tuệ, tri kiến Phật học. Vậy mà lên tiếng bàn luận về ý nghĩa thâm sâu của lời Phật dạy: “Hãy lấy giới luật làm Thầy”. Bạn có biết giới luật của Đức Phật gồm những gì không? Ý nghĩa giới luật là gì không? Mục đích của giới luật là gì không? Giới luật gồm có những phàm trù nào? Những phương diện của giới luật như thế nào?Và bạn đã tự hỏi bản thân mình đã biết, hiểu, thọ giới và giữ được đúng giới luật của Đức Phật chưa mà bàn luận, phê bình người khác về giới luật?

    2.Gieo nhân phỉ báng Phật Pháp – Quả là địa ngục đang chờ.

    Mục đích của giới luật là vì sự lợi lạc của chúng sanh vì vậy khi chế tác Đức Phật đề ra bốn cơ chế vận hành: giá, khai, trì, phạm ( đóng, mở, giữ, phạm), chánh tư duy trên nền tảng “ duy tuệ thị nghiệp” và từ bi thông qua ba phương diện: Luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới tất cả đều vì sự lợi lạc của chúng sanh mà hành xử.

    Bởi vậy Cư sĩ Duy Ma Cật –  Ngài có vợ và nhiều thê thiếp cả tôi tới, thụ hưởng ngũ dục của hàng trưởng giả đã được Đức Phật tán thán công hạnh siêu xuất của Ngài trước hội chúng bao gồm các bậc đại Bồ tát và Thánh tăng. Vậy theo comment của bạn Phương Minh thì Đức Phật tán thán công hạnh của Ngài Duy Ma Cật là sai hay sao? Và cả hội chúng bao gồm các bậc Bồ Tát và Thánh tăng là sai hay sao? Đức Phật đã khẳng định: “ Tin ta mà không hiểu ta là phỉ bảng ta”. Qua đó bạn biết bạn phạm tội gì rồi chứ? Quả sẽ gánh chịu là gì rồi?

    Mà Đại sỹ Liên Hoa Sanh là vị Phật thứ hai có hai minh phi đã khẳng định: “ Bậc giác ngộ hiện thân với nhiều hình tướng bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, đội lốt tu hành đừng lầm đồng là vàng”.

    Mong rằng bạn Phương Minh hãy quán xét lại hành vi thân, ngữ, tâm của mình đang gieo những nhân phỉ báng Phật Pháp tạo ra quả cửa địa ngục đang mở rộng chào đón mà tỉnh thức sám hối lỗi lầm. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe đừng như kẻ ngu mà Đức Phật đã chỉ trong kinh Pháp Cú:

    “Kẻ ngu cho mình trí

    Đó là kẻ trí ngu”.

    Cầu nguyện chúng sanh có ý thức kiêm tốn và đức tính thổ hẹn.

    OM MA NI PAD ME HUM

     

  44. Kính Bạch Thầy
    Con đã đọc comment của Phương Minh và comment huấn thị của Thầy. Sau đây, con có vài lời dành cho Phương Minh, có gì chưa đúng với quỹ đạo chánh pháp xin Thầy từ bi cho con sám hối.
    Gửi Phương Minh
    Tôi là học trò Thầy Thinley Nguyên Thành, pháp danh Mật Hảo, Đạo tràng Mật Gia Song Nguyễn, đồng thời là Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng, và cũng là CLB Unesco khảo cứu và ứng  dụng Yoga Tây Tạng.
    Trước tiên xin nói về thái độ thiếu văn hoá và thiếu tư cách bàn luận Phật pháp trên văn đàn của bạn đọc Phương Minh.
    1/Phương Minh comment vào bài viết không một lời chào hỏi, nhảy vào đặt ra vấn đề, phân tích, lý luận theo tâm ý của mình. Có khi nào bạn tự hỏi mình có thân phận gì chưa? Văn hoá giao tiếp cơ bản của bạn bỏ quên đâu rồi? Nếu có thời gian thì nên vào trường mầm non học lại nhé!
    2/Bạn không một lời giới thiệu công khai, minh bạch về thân phận của mình (pháp danh? Tông môn, tông phái? đạo tràng?). Với cái tên Phương Minh thì đủ tư cách gì mà bàn luận về Phật pháp?
    Tạm thời cứ cho rằng bạn là một Phật tử, có thể bàn luận, thì bạn cũng đã mắc phải sai lầm khi khẳng định rằng: “không có chuyện 1 vị vua sống phi giới luật, tận hưởng dục lạc thế gian : Rượu chè phè phỡn, ăn cao lương mỹ vị, cung phi mỹ nữ đầy ắp bên mình… tu một pháp môn nào đó mà lại giải thoát được.”
    1/ Lời dạy của Đức Phật trong kinh Di Giáo: “Hãy lấy giới luật làm Thầy” là không sai, tuy nhiên bạn đã quá bám chấp vào đó mà quên mất tôn chỉ Đức Phật đã dạy là “Duy tuệ thị nghiệp”. Bên cạnh đó Đức Phật đã chỉ ra 84.000 pháp môn phù hợp với căn cơ của mọi chúng sanh, áp dụng phù hợp theo tính Quốc độ, tính Dân tộc, tính Thời đại.
    2/ Giới luật mà Đức Phật đã chế định ra cho người tu là cư sĩ với người tu là tăng sĩ là khác nhau, đối với tăng sĩ “không uống rượu, không quan hệ nam nữ” thì hàng cư sĩ là “không lạm dụng các chất gây nghiện, không tà hạnh trong quan hệ giới tính”. Đạo sư Tilopa đã dạy : “ Ngũ dục tự chúng không gây hại, lỗi lầm ở chỗ thái độ của người thọ lạc chúng”. Nếu cho rằng chỉ có những vị tăng sĩ đã ly dục sống trong chùa, tu viện mới giữ giới tốt thì sao lại có nhiều scandal về vị sư A ở chùa X như thế? Bạn nên nhớ rằng Đại sĩ Liên Hoa Sanh đã khẳng định : “Bậc giác ngộ hiện thân với hình dạng bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, đội lớp tu hành, đừng lầm lẫn đồng là vàng”.
    3/ Tứ chúng đồng tu (tăng sĩ: tỳ kheo, tỳ kheo ni ; Cư sĩ: cư sĩ nam, cư sĩ nữ) theo lời Đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”, vậy thì tại sao chỉ có tăng sĩ mới giữ giới được và giải thoát, còn hàng cư sĩ sống trong đơi sống thế tục thì không? Trong khi ấy, Đại sĩ Liên Hoa Sanh, Ngài Duy Ma Cật, Đạo sư Dilgo Khyentse,…họ là ai? Tăng sĩ hay cư sĩ? những thành tựu mà họ đạt được như thế nào?
    Tôi nghĩ bạn đã phạm phải trọng tội khi bạn đang phê bình và bác bỏ pháp tu mà Đức Phật đã chỉ ra dành cho cư sĩ đó là phương pháp “có thể song hành đời đạo”. Bạn đang ngấm ngầm phỉ báng Giáo pháp của Đức Thế Tôn, đồng thời phỉ báng Đức Phật khi bạn viết lên đoạn: “Nếu Đức Phật Thích Ca biết pháp môn này, thì hẳn là Ngài đã truyền dạy cho công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu La đê họ ở tại cung điện tu hành cho sướng…” Bạn đang phủ nhận những tu pháp mà Đức Phật đã dạy dành cho hàng cư sĩ hay bạn cho rằng Đức Phật không từ bi khi để công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu La bôn ba, vất vã tầm cầu giải thoát? Hay bạn bảo rằng  Đức Phật phải ưu tiên truyền dạy cho vợ con của mình sao, hay sâu xa hơn là bạn ngầm cho rằng Đức Phật còn luyến ái?
     Bạn tu Phật làm chi mà lại bác bỏ hết những gì Phật dạy như thế? Bạn nên nhớ Đức Phật đã dạy trong kinh Tứ thập nhị chương : “Đừng tin vào tâm ý mình khi chưa đắc thánh quả”.
    Vài lời góp ý, mong bạn sớm tỉnh thức và sám hối.
    Cầu nguyện cho chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc của chúng sanh.
     
    Om mani padme hum

  45. Chu Thùy Liên says:
    Kính thưa Thầy

    Con đã đọc bài viết của Thầy. Con hiểu thêm về sơ thiền, tứ thiền về 6 phép ba la mật, 10 hoạt động tâm linh mà con đang thắc mắc. Xin trân trọng cảm ơn Thầy.

  46.  
    Kính bạch Thầy,
     
    Con đã đọc comment của bạn Phương Minh và lời dạy của vị Thầy. Nương theo oai thần của Đạo sư, Bổn tôn, Dakini, con xin được có vài lời gửi tới bạn đọc Phương Minh.
     
    Gửi tới Phương Minh,
     
    Đọc comment của bạn mà tôi liên tưởng ngay lập tức tới câu “ếch ngồi đáy giếng”. Vì con ếch ngồi đáy giếng, ngẩng mặt lên nhìn trời qua miệng giếng nên nó chỉ nghĩ là trời tròn tròn nho nhỏ như cái miệng giếng thôi. Kiểu tư duy và lập luận của bạn đúng là một ví dụ điển hình cho hình ảnh so sánh trên.
     
    Giáo lý Đức Phật mênh mông bao la, rộng như trời, sâu như bể, tu pháp Ngài truyền dạy lên tới 84000 pháp môn tùy theo căn cơ chúng sanh. Bạn biết được mỗi câu “Hãy lấy giới luật làm thầy” thì đã liền bám chấp vào đó để lên tiếng phê phán này kia trong khi tư cách đàm luận ngay từ đầu bạn đã không có. Bạn vào chanhtuduy.com không xưng danh tính, tông phái, đạo tràng, chẳng ai biết Phương Minh là ai? Có sản phẩm trí tuệ nào chưa?
     
    Rồi tới khi đọc nội dung comment của bạn, tất cả những luận giải bạn đưa ra đều dựa trên mệnh đề “nên không thể có chuyện”, “thì hẳn”, “Ngài sẽ không..” tức là đều là tâm ý chủ quan do bạn tự nghĩ ra. Không hề có luận chứng, luận cứ từ kinh điển Phật môn, trong khi Đức Phật đã dạy “Đừng tin vào tâm ý của mình khi chưa đắc Thánh quả”. Bầu trời không nhỏ như cái miệng giếng đâu Phương Minh ạ.
     
    Để hiểu hơn về sự ngu muội của mình, bạn vui lòng đọc kỹ lời dạy của vị Thầy và comment của các đạo huynh Mật gia phía trên đã phân tích.
     
    Đôi lời gửi tới bạn, mong bạn hoan hỉ đón nhận.
     
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ.
     
    Om ah hum.
     

  47. Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc comment của bạn đọc Phương Minh . Con xin phép Thầy cho con viết đôi lời với bạn đọc  Phương Minh . Nếu con viết có điều gì sai với quỹ đạo chánh pháp. Con kính mong Thầy từ bi khai thị. Con cảm ơn Thầy!
    Gửi bạn Phương Minh,
    Tôi là Mật Diệu Hằng, học trò của Thầy Thinley Nguyên Thành. Tôi đã đọc phần phản hồi của bạn, tôi có đôi điều chia sẻ. Tôi mong bạn hoan hỷ đón nhận.
    1, Không đủ tư cách đối luận.
    Thứ nhất, bạn đọc Phương Minh lên văn đàn Phật pháp chanhtuduy.com không xưng pháp danh, dòng phái tu học, thực hành ở đạo tràng nào, tịnh xá gì nên chưa thể khẳng định bạn đọc Phương Minh có phải là Phật tử hay không. Nếu bạn Phương Minh chưa phải là Phật tử, e rằng việc bạn đàm luận Phật pháp là không phù hợp.
    Thứ hai, văn phong viết comment thiếu văn hóa, vô lễ, thể hiện bằng việc bạn “xộc thẳng” vào trang nhà chanhtuduy.com mà không có lấy câu chào hỏi, thưa gửi. Thế gian có câu “lời chào cao hơn mâm cỗ”, “tiên học lễ, hậu học văn” để giáo dục con người sống có văn hóa. Trong đạo Phật có giới luật “kính trọng người trên”, vậy mà bạn tỏ thái độ vô lễ với phần phản hồi đối với bài đối luận của Đạo sư Mật giáo Thinley Nguyên Thành, được chư Phật mươi phương tỏ lòng kính trọng (50 kệ tụng sùng kính Đạo sư), và được kinh Ưu bà tác giới xác quyết là vị Thầy của trời, người.
    Trong khi đó, bạn dùng luận điểm “Đức Phật dạy : “Hãy lấy giới luật làm Thầy” để bắt bẻ các bài đối luận. Bạn đọc được lời dạy của đức Thế Tôn: “hãy lấy giới luật làm Thầy”, nhưng bạn đã không tuân thủ giới luật cơ bản mà bất cứ người con Phật sơ cơ nào cũng khắc cốt ghi tâm: “kính trọng người trên” để thúc liễm thân tâm mà tầm cầu giải thoát.
    Hành trạng của những kẻ nói hay nhưng làm không được, hoặc tự tin vào tâm ý của mình, vì thiếu hiểu biết mà không nhìn thấy công hạnh của vị Đạo sư Mật giáo, bất kính vị Thầy đã được thánh giả Mã Minh khuyến cáo trong trước tác 50 kệ tụng sùng kính Đạo sư:
    “Nếu kinh vị Thầy vì thiếu hiểu biết
    Thuốc độc tai ương bệnh truyền nhiễm
    Những thứ này gây khổ đau khôn xiết
    Trong đời này và cả vạn kiếp sau”
    2, Không hiểu bản chất trong lời dạy của đức Thế Tôn:
    Trong kinh Di Giáo, đức Phật có căn dặn đệ tử: “Hãy lấy giới luật làm Thầy”. Nhưng Giới Luật nhà Phật có 4 phương diện hoạt dụng là giá, khai, trì, phạm và 3 phạm trù gồm Luật nghi, Nhiếp thiện pháp và Nhiêu ích hữu tình giới” liệu Phương Minh hiểu hết không mà căn vặn, bắt bẻ vị Thầy Mật giáo cũng như các bài đối luận khác. Ngoài ra, đức Phật đưa ra Giới luật khác nhau phù hợp với đối với từng đối tượng, căn cơ hoàn cảnh khác nhau để giúp chúng sanh được tu tập trên tinh thần: tứ chúng đồng tu. Vì vậy, Giới luật đối với tăng sĩ khác với đời sống cư sĩ, Giới luật của người tu Tiểu thừa khác với người tu đại thừa. Và, mật giáo giới, bồ tát giới được chế định ra cho những hành giả tu học Mật thừa khác với hành giả tu học tịnh độ tông hay thiền tông.
    Trong bài kinh Đại Bát Niết-Bàn Đức Phật dạy rằng: “Này chư Tỳ kheo, sau khi Như Lai Niết-bàn rồi có vị Tỳ kheo nào nói rằng ‘tự thân tôi nghe lời này của Đức Thế Tôn’, hay một nhóm Tỳ kheo nào nói là ‘tự thân tôi nghe từ một vị được  nghe từ Đức Thế Tôn’, hay vị nào nói ‘tôi nghe nhóm chư Tỳ kheo được nghe từ Đức Thế Tôn’, hoặc một nhóm Tỳ kheo nói rằng ‘Tôi nghe từ những vị Tỳ kheo thọ trì từ Đức Thế Tôn’ thì khoan vội tin cũng như khoan vội bác bỏ mà hãy đối chiếu Pháp và Luật. Nếu Pháp và Luật tương ưng với nhau thì đó là lời dạy của Như Lai. Nếu Pháp có,  Luật không có; nếu Luật có,  Pháp không có, thì đó không phải là lời dạy của Như Lai.”
    Vấn đề cốt lõi trong tu học Phật là giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Pháp của Như Lai có một vị giải thoát: “đại dương chỉ có một vị duy nhất là vị mặn, cũng vậy giáo pháp của Như Lai chỉ có một vị duy nhất là vị giải thoát” (Tiểu Bộ Kinh)
    Chỉ có thanh gươm trí tuệ Phật đà mới có thể giúp người tu chặt đứt vô minh, vượt sông sinh tử. Do vậy, tuyên ngôn của đạo Phật  là “duy tuệ thị nghiệp”. Trong Kinh Di Giáo, đức Phật đã dạy: “Này các tỳ kheo, nếu người có trí tuệ thì không có tham trước, thường tự tỉnh giác, không để sinh ra tội lỗi. Thế là trong pháp của ta có thể được sự giải thoát…
    Người có trí tuệ chân thật, ấy là chiếc thuyền chắc vượt qua biển già, bệnh, chết; cũng là ngọn đèn chiếu sáng cảnh tối tăm mờ ám; là các món thuốc hay trị các thứ bệnh là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não.
    Thế nên các ông phải dùng tuệ: Văn, Tư, Tu mà tự làm cho thêm phần lợi ích. Nếu người có trí tuệ chiếu soi, dù cho nhục nhãn thì cũng là người thấy được rõ ràng”
    Trong kinh Bát Đại Nhân Giác, đức Phật cũng dạy: “luôn ghi nhớ biết đủ, đơn sơ gìn giữ đạo, dùng trí tuệ làm nghiệp”  và: “nghe nhiều và học rộng, tăng trưởng căn trí tuệ, thành tựu mọi biện tài, giáo hóa cho tất cả, hết thảy được an vui”
    Do đó, trì giới phải có trí tuệ nên mới làm lợi cho mình và tha nhân. Nếu trì giới một cách mù quáng, máy móc mà không có được trí tuệ Phật đà thì mãi không thể vượt sông sinh tử. Trong 37 pháp hành Bồ tát đạo, thánh giả Thogme Zangpo đã khuyến cáo: “Có 5 Ba la mật mà thiếu trí huệ Ba la mật thì không thể dẫn đến đạo quả. Bởi vậy, hãy kết hợp các phương tiện thiện xảo cùng với trí tuệ để khỏi lạc vào 3 cõi. Đó là pháp hành Bồ tát đạo.” Trong khi đó, trì giới chỉ là một trong 5 Ba la mật, làm sao đủ để giúp người tu viên thành đạo quả nếu hành giả không có tuệ tri Phật đà?
    Bên cạnh đó, yếu tố thứ hai giúp người tu viên thành đạo quả là bồ đề tâm, là từ bi giúp chúng sanh thoát khỏi luân hồi sinh tử. Đức Phật đã dạy: “Tòa kim cang của Ta không có ai sở hữu ngoài những người đầy đủ từ bi và trí tuệ”. Vì vậy, nếu “mọi thiện hạnh không xuất phát từ Bồ đề tâm đều là tà pháp” (kinh Pháp Hoa).
    Thắc mắc của bạn đọc Phương Minh: “Đức Phật dạy :“Hãy lấy giới luật làm Thầy”, nên không thể có chuyện 1 vị vua sống phi giới luật, tận hưởng các dục lạc thế gian : Rượu chè phè phỡn, ăn cao lương mỹ vị, cung phi mỹ nữ đầy ắp bên mình…tu 1 pháp môn nào đó mà lại giải thoát được” hoàn toàn tự ý lập ngôn, vì ngay bản thân đức Phật cũng không cấm chúng sanh thọ dụng thành quả. Ngài không ủng hộ lối tu khổ hạnh, ép xác. Ngài chọn con đường Trung Đạo để đạt giác ngộ. Kinh Vô Tránh Phân Biệt trong Kinh Trung Bộ tập 3, được ghi như sau:
    “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
    Trong Phẩm Chuyển Pháp Luân của Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm giải thích Trung đạo là con đường ‘Bát Chánh Đạo’ như sau: “Ta nay vì các ông nói pháp Trung đạo, các Tỳ kheo cần phải lắng nghe. Cái gì gọi là Trung đạo ? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định”
    Như vậy, đức vua thọ dụng dục lạc nhưng tâm không bám chấp, giữ tâm quân bình tu theo bát chánh đạo, đặc biệt là có chánh kiến để tạo nền tảng cho trí tuệ Phật đà thì hoàn toàn đạt được giác ngộ khi có đủ năng lực nội tại. Ngài Tilopa đã dạy: “Ngũ dục tự chúng không gây ra tai hại, lỗi lầm là ở chỗ thái độ của người thọ lạc đối với chúng”. Vì vậy, Pháp vương Gyalwang Drukpa thứ 12 trong một lần đến thăm Việt Nam đã trả lời phỏng vấn liên quan đến những trăn trở của người tu tại gia không biết liệu họ có đạt thành quả (có thể hiểu là giác ngộ) hay không. Ngài nói rằng: “Câu nói rằng nếu không đi tu (xuất gia) sẽ không đạt thành quả là không đúng. Nếu bạn đủ năng lực nội tại, làm cư sĩ sẽ rất tốt. Mỗi ngày bạn phải đối mặt với những tham lam, tham ái của đời thường. Nếu chúng ta có thể vượt qua những điều này, ta sẽ giác ngộ tốt hơn.” Điều này đã được minh chứng qua tấm gương của các thành tựu giả có đời sống gia chủ như đại sỹ Liên Hoa Sanh, ngài Marpa…
    Trong tác phẩm “Quán Thế Âm Bồ tát tín luận” Hải Tín Cư sĩ khẳng định : “Có tiền là có quyền hưởng sự sung sướng của vật chất. Có danh phận là có quyền hưởng sự kính trọng của người đời. Pháp Quán Thế Âm Bồ tát (tức là niệm tôn hiệu, trì niệm thần chú của Ngài) không phải tạo ra một tinh thần bi quan hay lạc quan. Người tu biết rõ vị trí của mình ở trong đời, nên sống với những gì mà mình có được và hưởng những gì mà mình có quyền hưởng.”
    Và trong “Kinh Đại bát nhã Ba la mật đa, Tập 1, Phẩm Học quán” (do Hòa thượng Thích Trí Nghiêm dịch) đã xác quyết rằng các vị Bồ-tát Ma-ha-tát có nhiều hình tướng khác nhau: “Lúc ấy, Xá Lợi Tử thưa Phật rằng: Bạch Đức Thế tôn! Các Bố tát Ma ha tát cần phải có cha mẹ, vợ con và các thân hữu sao?
    Phật bảo cụ thọ Xá Lợi Tử rằng: Hoặc có Bồ tát có đủ cha mẹ vợ con quyến thuộc mà vẫn tu hạnh Bồ tát Ma ha tát. Hoặc có Bồ tát Ma ha tát không có vợ con, từ sơ phát tâm cho đến thành Phật, thường tu phạm hạnh chẳng hoại đồng chơn. Hoặc có Bồ tát Ma ha tát phương tiện khéo léo, thị hiện thọ ngũ dục rồi nhàm bỏ, xuất gia tu hành phạm hạnh, mới được vô thượng chánh đẳng Bồ đề…”
    3, Không hiểu về phương tiện thiện xảo, phương pháp thực hành đúng (tính quốc độ, thời đại, dân tộc)
    Nhà toán học Decars người Pháp có câu nổi tiếng: “Không có phương pháp, thiên tài cũng mắc phải lỗi lầm. Có phương pháp, người thường cũng trở thành bậc phi thường”.
    Khi có được phương pháp thực hành đúng, phù hợp với hoàn cảnh của bản thân, người con Phật sẽ tu tập tập trung vào ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và trí tuệ tánh không để thoát khỏi luân hồi. Đức Phật đã từ bi thị hiện tại cõi Ta Bà này và dạy 84.000 pháp môn giúp chúng sanh mọi căn cơ hoàn cảnh đều được “tứ chúng đồng tu”, bình đẳng với mọi chúng sanh và dùng mọi phương tiện để độ hóa cho họ.
    Không rõ bạn đọc Phương Minh tu học theo tông môn nào, không đưa ra được một chút kiến thức nào về Mật thừa mà lại lên giọng với Thầy , trò Mật giáo như vậy. Cách dùng phương tiện khác nhau, giảng luận khác nhau để phù hợp với căn cơ của chúng sanh khác nhau được minh chứng rất nhiều trong kinh Phật. Tôi thiết nghĩ bạn đọc Minh Phương nên đọc đoạn kinh này:
    “Một lần nọ xảy  ra một cuộc tranh cãi giữa người thợ mộc Pañcakaṅga của vua Ba Tư Nặc với Ngài Udāyi.  Ngài Udāyi nói rằng tự thân mình nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng ba thọ, ông thợ mộc thì cãi rằng chính mình được  nghe Đức Thế Tôn thuyết chỉ có hai thọ mà thôi.  Ngài Ananda chứng kiến cuộc tranh cãi và  không biết phân xử làm sao vì người  nào cũng khẳng định là chính mình đã được  nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Ngài Ananda về xin ý kiến của Đức Phật và Ngài nói: “Này Ananda, tùy pháp môn mà Như Lai thuyết giảng. Có khi Như Lai thuyết giảng hai  thọ, có khi Như Lai thuyết giảng ba  thọ, có khi Như Lai thuyết giảng năm thọ, có khi Như Lai thuyết giảng sáu thọ, có khi Như Lai thuyết giảng mười tám thọ, có khi Như Lai thuyết giảng ba mươi sáu thọ, có khi Như Lai thuyết giảng một trăm lẽ tám thọ” – (Kinh Đa Thọ, Trung Bộ Kinh).
    Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật cũng đã căn dặn: “Xá-lợi-phất, chư Phật trong quá khứ sử dụng vô số phương tiện thiện xảo, những nguyên tắc và các điều kiện khác nhau, cùng những ngôn từ so sánh và minh họa để giảng giải giáo pháp vì lợi ích của chúng sanh. Tất cả những giáo pháp này vì một Phật thừa duy nhất. Tất cả chúng sanh, qua việc lắng nghe giáo pháp của chư Phật, cuối cùng có thể đạt được nhất thiết chủng trí.”
    Vị vua với trọng trách đối với quốc gia và đức vua muốn tu tập, đức Phật đã vì tấm lòng bồ đề mà chỉ dạy cho nhà vua phương pháp tu phù hợp với hoàn cảnh của nhà vua để nhà vua vừa tròn trách nhiệm đời vừa tu học viên thành đạo quả, có được sự tĩnh thức để thoát khỏi nấm mồ sinh tử. Đó chính là giá trị vô giá của người hướng đạo. Cũng như vậy, trong phạm vi gia đình nhỏ, người cư sĩ bị ràng buộc bởi trách nhiệm gia đình, cha mẹ, con cái; khi gặp người tu tà kiến, chấp pháp, chấp ngã, thiếu hiểu biết, không có bồ đề tâm “xui” họ cạo đầu đi tu, chối bỏ trách nhiệm với gia đình xã hội, liệu xã hội có được văn minh, tiến bộ hay chìm trong nạn trộm cắp, cướp đoạt, tệ nạn xã hội vì những đứa trẻ bơ vơ không biết nương tựa vào đâu khi bố mẹ chúng đã “xuống tóc, cạo đầu”. Bên cạnh đó, những người được coi là xa lánh xã hội, vào chùa tu hành kham khổ liệu tâm có bình an khi hình ảnh những đứa trẻ thơ khóc đòi mẹ, nhớ cha vẫn văng vẳng bên tai? Nếu người tu mà có đủ “nhẫn tâm” như vậy thì đạo Phật đã đánh mất đi tính chất từ bi, bồ đề tâm. Thiếu bồ đề tâm, hành giả không thể có đủ công đức để phát tuệ mà viên thành đạo quả.
    Còn trường hợp công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu la vì họ phát nguyện muốn tu tập theo tăng đoàn nên đức Phật vì phát nguyện đó của họ mà dạy họ phương pháp tu của tăng sĩ, tu tập theo Trung Đạo và viên thành đạo quả. Do bạn đọc không hiểu lời đức Phật dạy, bạn đọc Phương Minh quá ngã mạn, tự ý lập ngôn nên mới đưa ra một lập luận vô căn cứ: “Nếu Đức Phật Thích Ca biết đến pháp môn này, thì hẳn Ngài đã truyền dạy cho công chúa Da Du Đà La và hoàng tử La Hầu La, để họ ở tại cung điện tu hành cho sung sướng. Ngài sẽ không để cho 1 vị công chúa tay yếu chân mềm và 1 vị hoàng tử còn bé bỏng phải cạo tóc, đắp y, sống cuộc đời rày đây mai đó, chịu dầm mưa dãi nắng, khất thực bữa đói bữa no… hằng chục năm trời mới đạt được sự giải thoát.”
    Hiểu rộng ra, tuy theo từng thời đại, từng hoàn cảnh khác nhau mà đức Phật hay vị Thầy dạy đạo dạy đồ chúng khác nhau. Thời đức Phật còn tại thế, vì những phương tiện không học công nghệ thông tin chưa có nên đức Phật dạy đạo thông qua việc thuyết pháp trực tiếp, người nghe pháp đến tận nơi để được nghe đức Phật thuyết. Nhưng đến nay, công nghệ thông tin bùng nổ, trong căn phòng Duy Ma Cật thời @, những bài viết, bài giảng trên chanhtuduy.com chính là phương tiện mang tính thời đại, dân tộc, quốc độ; giúp chúng sanh hữu duyên tiếp cận với giáo pháp Phật đà. Tương tự vậy, thời trước con người không có xe đạp thì phải đi bộ. Khi xe máy ra đời, rồi đến ô tô, máy bay, con người có thể lựa chon cho bản thân mình phương tiện phù hợp với tình hình kinh tế bản thân mà sử dụng.
    Như ngài Khetsun Sangpo đã viết về Mật thừa:“Mật thừa giống như một căn nhà ở giữa cánh đồng rộng mà chúng ta có thể vào từ bất cứ hướng nào: đông, tây, nam, bắc. Hành giả không bị bắt buộc phải vào một lối nào, vì có đủ các pháp môn thích hợp cho từng hạng người. Trong các thừa Thanh văn và Bồ tát hành giả phải đi theo một con đường hẹp, còn Thần chú thừa (Mật thừa) thì có nhiều phương tiện dị thường để tích lũy công đức và trí tuệ một cách nhanh chóng, vì vậy hành giả mau đạt giác ngộ. Nhanh và dễ là đặc điểm của Mật thừa”. Chanhtuduy.com chính là căn nhà như thế giúp cho nhiều chúng sanh hữu duyên đến với chánh pháp.
    Bạn đọc Phương Minh chưa có tác phẩm trí tuệ, phẩm hạnh của người tu cũng không có, chưa giúp gì được cho tha nhân, bản thân thiếu văn hóa tâm linh, không giữ giới “kính trọng người trên” mà lên tiếng dùng giới luật bắt bẻ Thầy Thinley Nguyên Thành. Thật nực cười cho kẻ bất tàm vô quý!
    Bạn đọc Phương Minh hãy tìm đọc những tác phẩm trí tuệ của Thầy Thinley Nguyên Thành với hai tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” “Pháp là cuộc sống trên quan kiến Mật giáo” và 100 bài viết được phổ biến rộng rãi (và hơn 1.200 bài viết dành cho  người có tâm tầm sư học đạo) trên chanhtuduy.com để trang bị cho mình chánh kiến, hiểu lời Phật dạy, hiểu phương tiện thiện xảo và phương pháp giảng dạy siêu việt của Thầy Thinley Nguyên Thành đã giúp cho biết bao chúng sanh thoát mê về giác, ngõ hầu tránh lâm vào hành trạng của kẻ tà kiến: “không hoan hỷ thiện hạnh của người khác” mà kinh Tăng nhất A hàm đã chỉ ra. Và sáu tu pháp Mật gia Song Nguyễn chính là những phương tiện quyết định cho hành giả Mật thừa vượt sông sinh tử.
    Tôi hy vọng, bạn đọc Phương Minh đừng vì vô minh, thiếu hiểu biết mà tự chuốc họa vào thân vì ngài Tịch Thiên đã khuyến cáo nhiều lần trong tác phẩm: Bồ Tát hạnh: “Người nào khởi một niệm xấu ác trong bao nhiêu giây đối với bậc hành giả Bồ Tát thì sẽ phải đọa địa ngục bấy nhiêu kiếp.”
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh có đức khiêm tốn và ý thức hổ thẹn.
     
    Om Mani Padme Hum.

    • Mô Phật,
      Kính bạch Thầy
      Sau  khi đọc lại bình luận của bạn đọc Phương Minh, con xin phép Thầy cho con có thêm đôi điều bày tỏ suy nghĩ của mình về nhận định phiến diện và chủ quan của bạn đọc này. Bình luận của Phương Minh dựa trên một câu chuyện kể trong bài Đối luận với Tiến sĩ Thích Nhật Từ 2 về một vị vua thỉnh cầu Đức Phật dạy cách phát triển tâm linh thích hợp với người giữ nhiệm vụ quan trọng. Ngay trong bình luận của Phương Minh đã thể hiện sự mâu thuẫn ở chỗ: trong câu chuyện là một vị vua có tâm cầu pháp nhưng chưa biết làm thế nào để đời đạo song hành, còn câu bình luận của bạn lại thể hiện một vị vua không mảy may quan tâm đến Phật pháp ngoài việc chỉ biết tận hưởng những thú vui dục lạc và luôn phạm giới. Đúng ra với một comment không liên quan như vậy, các chư đạo hữu cũng như tôi không cần thiết phải trả lời bạn. Tuy nhiên, nương theo dòng tác pháp chiếu quang của vị Thầy và các đạo hữu, cùng với giả thiết  rằng vị vua đó muốn vừa tu học Phật pháp mà vẫn đảm đương được công việc điều hành đất nước (cũng giống như phần lớn học trò Mật gia hiện nay vừa tu học vừa sống đời sống gia chủ), tôi có vài lời muốn bàn về chữ Giới luật và thế nào là tuân theo giới luật ở cương vị là người trị vì đất nước.

      Giới trong tiếng Phạn gọi là Sila, là một trong ba môn học “vô lậu” ( gồm Giới (sila), Định (samadhi) và Huệ (pañña)), là những điều răn cấm do Đúc Phật chế định cho hàng xuất gia và tại gia để phòng ngừa tội lỗi của ba nghiệp. Còn Luật (vinaya) gồm những phép tắc, những phương thức qui định đời sống Tăng đoàn. Như vậy Giới mang ý  nghĩa bao quát trong khi Luật mang tính chi tiết, cụ thể, là phương thức để thực hiện những điều răn cấm đó. Đức Phật vốn đã chế định giới luật dành cho ba hạng: giới tại gia (gồm 5 giới và 8 giới), giới xuất gia (gồm 10 giới của Sadi và Sadini, giới Cụ túc của tỳ kheo và tỳ kheo ni), và giới chung cho cả cư sĩ và tu sĩ (tam tụ tịnh giới Bồ tát.) Theo tinh thần Đại thừa, hành giả trên viễn trình Bồ tát đạo thường lấy Tam tụ tịnh giới làm chính, bao gồm Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Nói một cách khác, người thọ giới Bồ tát trì tất cả tịnh giới (nhiếp luật nghi giới), làm tất cả điều lành (nhiếp thiện pháp giới) và làm lợi ích cho chúng sanh (nhiêu ích hữu tình giới). Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ, do vậy Giới trong Đạo Phật được đặt trên nền tảng tình thương với tất cả chúng sanh. Chính vì thế, trong tam tụ tịnh giới thì đỉnh cao chính là Nhiêu ích hữu tình giới hay nói tóm gọn lại là Bồ đề tâm bởi Thánh tăng Atisha khẳng định rằng” Đem 84.000 pháp môn quấy thành tinh túy thì đó là Bồ đề tâm.”
       
      Bạn đọc Phương Minh có nói rằng “Vị vua sống phi giới luật”. Vậy thử hỏi bạn có chắc rằng khi nói như vậy là bạn không chấp pháp hay giáo điều hay không? Hai nghìn năm trăm năm trước thời Đức Phật còn tại thế, cứ mỗi khi đệ tử của Ngài phạm lỗi gì thì Ngài lại định chế ra một giới luật để hạn chế hành vi đó, cứ như vậy thành lập 250 giới cho Tỳ kheo và 350 giới cho Tỳ kheo ni. Nhưng thử hỏi có vị tỳ kheo nào dõng dạc tuyên bố tôi đây giữ tròn được cả mấy trăm giới đó không? Nếu chấp nhặt pháp tu chỉ được phép ăn chay, nếu không ăn chay là phạm giới thì chắc chắn sẽ không có Phật giáo Tây Tạng nổi tiếng khắp thế giới hiện giờ bởi để tồn tại nơi xứ tuyết lạnh giá luôn khan hiếm rau củ, người tu hành buộc phải ăn nhiều bơ sữa và ăn thịt để có sức khỏe chống chọi lại với thời tiết. Tuy thế, không vì ăn mặn mà họ không được gọi là tỳ kheo. Thánh giả Liên Hoa Sanh là sơ tổ Phật giáo Tây Tạng cũng là người ăn mặn. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có thời kỳ ăn mặn ở Tây Tạng hay Ngài Marpa, ông tổ dòng phái Kagyu cũng ăn mặn và uống rượu.  Một ví dụ khác là nghi lễ tụng kinh gõ mõ. Nếu cứ bám chấp rằng muốn tụng kinh phải lên chùa mỗi tối thì thời nay mấy ai tuân thủ được, nhất là hàng cư sĩ tại gia (chiếm phần lớn trong giới Phật tử) vốn bận rộn mưu sinh hàng ngày. Vì vậy trang web Chanhtuduy.com mới ra đời nhằm giúp các hành giả hay bạn đọc linh hoạt trong việc nghe pháp (tụng kinh – đọc bài, nghe bài giảng) và giảng pháp (gõ mõ – viết comment), mà dẫn chứng thiết thực nhất là cơ hội cho Minh Phương tìm hiểu Phật pháp và comment ở diễn đàn này. Những gì Đức Phật dạy ứng với tính thời đại, quốc độ và dân tộc nên Ngài thuyết pháp ở thành Xá Vệ khác với thuyết pháp ở Tỳ Da Ly hay Ma Kiệt Đà. Trong ba trăm pháp hội, Phật thuyết không hề giống nhau, nhưng tất  cả pháp đều nhằm một vị, đó là vị giải thoát. Từ đây cho thấy Phật pháp có phát triển được hay không phần lớn khi người tu biết tùy duyên giáo hóa, không cố chấp theo khung giới luật cứng nhắc. Trở lại với vai trò là một người lãnh đạo đất nước và là một Phật tử cư sĩ, vị vua đó vẫn điều hành đất nước, tận hưởng những thú vui của cuộc sống đồng thời vẫn trì được Tam tụ tịnh giới theo tinh thần trong Kinh Thiện Sanh, Tạng A Hàm (bản dịch Việt từ Hán của Thượng tọa Tuệ Sỹ), trong đó Đức Phật nhấn mạnh về mối liên hệ trong gia đình, trong công việc, quan hệ xã hội. Ngài đã đưa ra những điều giới mà người con cần tuân thủ (tương đương quan hệ giữa vị vua và cha mẹ mình)

      * Cấp dưỡng cho cha mẹ
      * Thực hiện trách nhiệm và bổn phận của mình đối với cha mẹ
      * Duy trì nòi giống và truyền thống của gia đình
      * Làm tròn công việc ma chay đối với người đã khuất

      Ngược lại, cha mẹ phải đối xử với con cái theo 5 điều: (tương đương quan hệ giữa vị vua và con cái mình)

      * Ngăn cản con cái làm những hành động bất chính
      * Khuyến khích con cái làm những việc có đạo đức
      * Hướng dẫn cho con cái có nghề nghiệp ổn định
      * Sắp xếp việc cưới hỏi thích hợp cho con cái
      * Trao cho con di sản thừa kế đúng lúc

      Giữa Thầy và trò (quan hệ giữa vị vua và những người Thầy của mình)

      * Đứng dậy chào Thầy
      * Hầu Thầy
      * Ham học
      * Chăm sóc thầy chu đáo
      * Chú tâm mỗi khi nghe lời dạy của Thầy

      Bổn phận chồng đối với vợ (quan hệ giữa vị vua và những người vợ)

      * Tôn trọng nhau
      * Lịch sự nhã nhặn với nhau
      * Trung thành
      * Tôn trọng quyền làm vợ
      * Cung cấp cho vợ những vật trang sức cần thiết

      d. Bạn bè với nhau

      * Rộng lượng với bạn
      * Nhã nhặn với bạn của mình
      * Có lòng nhân từ
      * Cư xử với bạn giống như cư xử với chính mình
      * Nói lời tốt đẹp

      e. Bổn phận giữa chủ đối với đầy tớ (quan hệ giữa vua với quần thần)

      * Phân công việc phải tùy theo sức khẻo và khả năng của đầy tớ
      * Cung cấp đầy đủ thức ăn và lương bổng cho họ
      * Chăm sóc họ khi bệnh hoạn
      * Thỉnh thoảng chia sẽ cho họ những món ăn ngon
      * Cho phép họ nghỉ ngơi đúng lúc

      Đó là chưa kể những quyết định điều hành đất nước mang tính chất do dân và vì dân, không vị kỷ, mang lại lợi lạc cho muôn người. Công đức của vị vua sẽ tăng trưởng mạnh hơn nữa nếu ngài thực hiện Bồ đề tâm dụng, hoằng dương Phật pháp, tạo điều kiện cho giáo pháp Phật đà phát triển rộng khắp, giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc quy y và thực hành Phật pháp. Trì giới Nhiêu ích hữu tình là đây chứ đâu xa.  Bên cạnh đó, vị vua sau khi thọ giới mà phá giới vẫn còn ích lợi vô song, vậy nên hòa thượng Tuyên Hóa đã khẳng định rằng: “Thầy tu đạo Phật phá giới vẫn hơn hẳn công đức của tu sĩ ngoại đạo.” Hơn nữa, trì giới mới chỉ là 1 trong 6 Ba la mật (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) hoặc trong 3 tu pháp cao cấp thì Trì giới chỉ thuộc về Xả ly, còn lại là Bồ đề tâm và Tánh không (xem bài Hãy quẳng đi gánh nặng tâm lý mặc cảm: http://chanhtuduy.com/hay-quang-di-ganh-nang-tam-ly-mac-cam/). Cùng với những phân tích về sự linh hoạt trong thọ giới ở trên, tôi khẳng định rằng vị vua đó không cớ gì phải sợ rằng mình không giữ được giới luật bởi ông đã làm được điều lớn nhất việc trì giới đó chính là Nhiêu ích hữu tình giới, tạo nhiều công đức vô kể để trở thành pháp khí Đại thừa Mật Giáo. Song song với việc hành trì một pháp tu cụ thể, vị vua đó hoàn toàn có cơ hội và khả năng tiến tu giải thoát trong khi vẫn ung dung tự tại thụ hưởng những thú vui dục lạc mà mình có quyền hưởng một cách chính đáng. Và lẽ dĩ nhiên, để làm được điều này, ông cần phải tìm được cho mình một vị Thầy tâm linh chỉ dạy theo tiêu chuẩn mà luận sư Dharmarkiti đã đề ra:
      “Biết đúng đối tượng cần thực hành
      Biết trọn vẹn phương pháp thực hành chúng
      Biết đúng đối tượng cần gạt bỏ
      Biết trọn vẹn phương pháp từ bỏ chúng
      Truyền thụ cho học trò với lòng bi mẫn.”
       
      Nguyện chúng sanh luôn tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ
       
      Om Ah Hum

  48. Mật Giác Đức says:

    Con thưa Thầy Cô
    Con đã đọc bài này rồi ạ
    Con cảm tạ ơn Thầy đã khai thị ạ
    Đệ hoan hỷ tán thán thiện hạnh của các Huynh đã tác pháp chiếu quang, đến bạn đọc Phương Minh
    Con cầu nguyện sức khỏe sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc của chúng sanh
    Con cầu nguyện cho tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ
    Om mani padmehum

  49. Kính thưa Thầy.
    Con đã đọc bài viết này rồi.
    Om mani padme hum.

  50. Mật Quảng Thanh says:
    Kính bạch thầy
    Con hoan hỉ đọc bài viết này của thầy.
    Mặc dù con không hiểu hết nhưng con phải thán phục tuệ tri của thầy. Những gì thầy nói đều có luận cứ rõ ràng từ Đức Phật.
    Con xin cảm ơn thầy đã khai thị cho con.
    Cầu nguyện cho sự trường thọ của thầy cô.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh được thấm đẫm hồng ân tam bảo.
  51. Trần Thị Ngát (Mật Tự Tâm) says:
    Kính bạch Thầy !
    Con đã đọc bài luận giải mà Thầy đã từ bi khai thị cho chúng con hiểu.
    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy ,Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om mani Padme hum.
  52. Mật Dũng Tâm says:
    Kính Bạch Thầy!!!!!
    Con đã đọc bài viết này rồi ạ.
    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum!!!!!!!!
  53. Vạn An says:
    Kính bạch thầy cùng các cô chú đạo hữu, các anh chị em đồng tu. Thật sự con đọc bài đối luận này con thấy xúc động quá, bởi lẽ Thầy cùng quý cô chú, các anh chị em đã hành động, không thể để ông ” tăng thượng mạn” Thích Nhật Từ phá hoại phật pháp như vậy được. Con kiến t hức còn quá hạn hẹp, luận giải chưa thông nên không thể đối luận một cách triệt để, thấu tình đạt lý được, nhưng may có thầy Nguyên Thành đã từ bi thương xót chúng con viết một bài đối luận thật sắc bén. Thời mạt pháp có rất nhiều tà sư, con nhớ không lầm đức phật Bổn sư đã huyền ký rằng không có một thế lực nào có thể phá hoại được giáo pháp của phật, không có một thế lực nào có thể phá hoại tăng đoàn được, chỉ có tự ” thối từ trong thối ra” mà thôi. Cho nên khi các kinh điển dần dần ẩn mất thì rất cần có những người như thầy để luận giải để bảo vệ giáo pháp của phật. Con xin cúi đầu đảnh lễ thầy.

    Thưa thầy đối với bài phát biểu của ông Thích Nhật Từ thì bản thân con cũng có thể bắt lỗi ngay từ cái ngôn từ lộng ngôn của chính ông ta. Theo ngu ý của con thì : Lão ta cho rằng ” hòa thượng Tịnh Không không qua trường lớp gì cả, còn cư sĩ Lý Bỉnh Nam cũng không qua trường lớp gì cả cho nên có thể thông cảm được” . Con bắt lỗi ngay từ chỗ này. Cái tấm bằng tiến sĩ phật học của TNT chắc chắn chưa được phật bổn sư thọ ký, tu phật là phải chứng ở tâm chứ không phải chứng ở tấm bằng tiến sĩ. Nếu nói rằng trình độ của ổng là tiến sĩ và ổng được học ở trường lớp bài bản, thế thì ổng học ở đâu? có phải chăng là học của các vị thầy tôn sư của ổng, mà các vị sư phụ của ổng học ở đâu chỉ có học ở giáo pháp của phật Thích Ca để lại thôi. Thế nhưng Phật Bổn Sư Thích Ca đâu khi tu hành đâu có qua trường lớp bài bản, đâu có bằng Tiến sĩ hay Giáo Sư gì đâu. Vậy nên nói như ông TNT thì ông này cũng học từ vị thầy không được đào tạo qua trường lớp. Tu phật cần nhất nơi tâm, nhưng ông TNT lại chăm chăm khoe cái sở học của mình, chê bai thánh hiền, bài bác kinh điển. Nhưng thật sự con không thể hiểu nổi chẳng lẽ giáo hội phật giáo Việt Nam hết người rồi hay sao mà vẫn để ông TNT giữ chức vụ quan trọng trong giáo đoàn.

    Trên đây là suy nghĩ ngu thiển của con, thầy cùng các quý cô chú lượng thứ cho ngôn từ chưa được chuẩn, con chỉ nói lên bằng ngôn từ từ đáy lòng. Chúc Thầy Nguyên Thành sức khỏe khinh an, thân tâm thường an lạc, tinh tấn và thành công trên con đường tu giải thoát. Chúc quý cô chú đạo hữu đồng tu sức khỏe, đạt được nhiều thành tựu và đặc biệt có đủ lòng tin về lời phật dạy.

    Đà Lạt, 12/05/2017 . con : Phạm Ngọc Khánh ( pháp danh Vạn An ) kính ghi

    • Vạn An says:
      Con gõ chữ bị nhầm chỗ : thời mạt pháp cần có rất nhiều tà sư, gõ đúng phải là: thời mạt pháp giờ có rất nhiều tà sư.

      Kính mong thầy sửa giúp con câu đó, con không sửa được.

  54. Lê Thịnh says:

    Kính bạch Thầy !
    Con Mật Tuệ Viễn (Lê Thịnh) con đã đọc bài rồi ạ . Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy , Cô vì lợi lạc chúng sanh
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh .
    Om mani padme humn

  55. Mật Diệu Linh says:

    Kính bạch Thầy.
    Con đã đọc xong bài viết “ĐỐI LUẬN VỚI TIẾN SĨ THÍCH NHẬT TỪ ( BÀI 2) rồi thưa Thầy.
    Con hoan hỷ tán thán trí tuệ của vị Thầy đã từ bi luận giải cho chúng con được hiểu về sự khác biệt giữa” đắc định sơ thiền đến định tứ thiền _ khác với đắc quả sơ thiền đến tứ thiền ” và con hoan hỷ khi đọc được lời khai thị của Thầy về phần “thực nghĩa của ly dục là gì” Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi luận giải cho chúng con và chúng sanh bài Pháp quý báu, và lợi lạc,trí tuệ và tấm lòng bồ đề tâm rộng lớn của Thầy đã mang lại niềm tin xoá mặc cảm cho những cư sĩ tu tập có đời sống tại gia.
    Con hoan hỷ tán thán thiện hạnh của các chư huynh kim cang đã noi theo tấm gương vị Thầy tác pháp chiếu quang cho những kẻ tà kiến.
    Con cầu nguyện Thầy cô mạnh khỏe trường thọ trụ thế lâu dài vì lợi lạc của mọi chúng sanh.
    Cầu nguyện bài viết này cùng các bài viết khác của vị Thầy lan tỏa khắp muôn nơi.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh uống được tinh tuý cam lồ.
    Om Mani Padme Hum!

  56. Mật Nhẫn Hoà says:

    Kính Bạch Thầy

    Con đã đọc bài viết,con cảm ơn Thầy đã khai thị ạ.

    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy,Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  57. Mật Nhã Nguyệt says:

    Kính Bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ. Con cảm tạ ơn Thầy đã từ bi khai thị cho chúng con.

    Con cầu nguyện sức khỏe của Thầy mãi mãi trường thọ.

  58. Mật Thái Xuyên says:
    Kính bạch Thầy

    Con đã đọc bài viết ” Cái bẫy của tâm thức”. Con cảm ơn Thầy đã từ bi khai thị cho chúng con một bài pháp lợi lạc.

    Con cầu nguyện Thầy, Cô sức khỏe và trường thọ vì lợi lạc của chúng sanh.

    Om mani padme hum

  59. Mật Chí Thành (Nguyễn Văn Hùng) says:
    Kính bạch Thầy.

    Con đã đọc bài này rồi ạ.

    Con xin hoan hỷ tán thán công hạnh của vị Thầy về bài viết này.

    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Con cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om mani padme hum.

  60. Thưa Thầy!

    Con đã đọc xong bài này rồi ah. Con rất hoan hỉ với công hạnh luận giải của vị Thầy qua bài này con hiểu rằng Thuyền không quang trọng lắm chỉ nằm trong mười hoặc động tâm linh  con cảm tạ ơn Thầy con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của thầy cô vì lợi lạc của chúng sanh Om ah hùm

  61. Hạnh Dung says:
    Mô Phật!

    Kính Thầy!

    Con đã đọc bài viết này  rồi ạ, con cảm ơn Thầy  đã giúp con mở mang trí huệ của người cư sĩ tại gia ạ.

    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh !

  62. Mật Thuận Như says:
    Kinh Bạch Thầy

    Con Mật Thuận Như Đã Đọc Bài Rồi ạ

    Con Cầu nguyện Cho Thầy Cô Thật Nhiều Sức khoẻ vi lợi lac chúng Sinh

    Cầu Nguyện cho Tất cả chúng sinh Thành tựu Hạnh phúc của phật tánh

    Om Mani Padme Hum

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status