Aug 22, 2014

Posted by in Pháp là cuộc sống | 27 Comments

HUYỀN HOẶC CHUYỆN TU HÀNH LINH CĂN: Kỳ 2: DỌC ĐƯỜNG TRẮC TRỞ, LĂN LÓC VEN RỪNG…

Diệu Đức đạo huynh,
Như đệ đã có kể ở phần trước, mỗi cuộc hành hương về Thất Sơn là một niềm vui thiêng liêng, cao cả đối với những người đã từng đi chung.
Trước khi bàn về niềm hoan hỉ, sự thành tâm đó của họ, đệ sẽ kể huynh nghe về sự gian nan của cuộc hành trình này.
Chuyến hành hương không hề dễ dàng, thậm chí là có phần hiểm nguy, trắc trở. Trải qua 4,5 tiếng đồng hồ ngồi xe, nếu đi xe lớn nhiều chỗ thì còn đỡ, vẫn an toàn hơn là một số đoàn đi bằng xe máy, 2 người 1 xe, thay phiên nhau chạy. Phải di chuyển trong đêm tối, đủ chuyện không may chực chờ. Đã từng có xe chở một đoàn người hành hương tại đây gặp tai nạn thảm khốc vì đá lở, đã có những tai nạn, va quẹt xảy ra giữa xe máy, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính mạng, sức khỏe, tài sản. Chưa kể những trục trặc nhỏ thường hay gặp như say xe, kẹt xe, trễ phà, hư hỏng dọc đường,…
Vượt qua được chặng đường dài ấy. Đoàn người sùng tín bắt đầu cuộc chinh phục những ngọn núi cao vót, trập trùng, đầy rẫy khó khăn. Núi Sam, Núi Dài, Núi Cấm, Núi CôTô,…Trong khoảng thời gian 3 – 4 ngày, cả đoàn phải lần lượt đi hết mấy ngọn núi, viếng rất nhiều điểm cúng, đa số là những điểm nổi tiếng “ linh thiêng”, những nơi có nhiều người được trị bệnh. Có thể kể ra một vài cái tên mà nhiều người biết: Vịnh Bồ Hong, Điện Nam Hải, Điện Cây Quế, Miếu Bà Cố, Điện Ngọc Hoàng, Điện Tam Thanh, Vồ Hội, Chùa Phật Lớn, Chùa Phật Nhỏ, Cửu Huyền Trăm Họ,…
Đoàn người có đủ các thành phần già, trẻ, nam, nữ, từ cụ già gần 70 tuổi một thân một mình lặn lội từ xóm nghèo xa xôi đến xin được đi chung, cho đến những em bé miệng còn hôi sữa (3, 4 tuổi hay thậm chí là vừa tròn thôi nôi!), còn lại là rất đông đảo lứa tuổi trung niên, thanh niên, thiếu niên. Số lượng ít thì 5, 10 người, đến 20, 30 người, rồi có đoàn 80 người, đôi lúc là đoàn hơn 200 người.
Cả một hàng dài con người nối gót nhau mà tiến bước, ai cũng thủ sẵn trên tay một cây gậy (được bày bán rất nhiều dọc đường đi). Các anh các chú mạnh tay khỏe chân thì mang vác hành lý, khiêng theo nào là nồi, bếp, chén đũa,…rồi thức ăn chay các bà các mẹ đã chuẩn bị sẵn, các cô các chị vác trên vai những bó huệ, cúc để dâng cúng (riêng những vật này thì ai cũng giành nhau mang bởi nghe nói là mang hoa cúng dường sẽ có quả lành là được thân người nghiêm trang, xinh đẹp), rồi các em nhỏ thì được giao xách đèn cầy, nhang thơm. Và một thứ mà phải nói số lượng rất nhiều đó là nước suối. Nước được mang theo từ nhà, thùng 21L, 5L, 1L cho đến hang chục lốc nước đóng chai nhỏ 0,5L; được chia ra để xách, thỉnh thoảng cũng mua them ở các điểm cúng( dĩ nhiên với giá “trên trời”, bởi các cư dân miền núi đã tự lâu rồi đánh mất bản tính thuần khiết, thật thà, giờ họ đã biết kinh doanh, thậm chí còn rất giỏi kinh doanh). Chắc huynh sẽ muốn hỏi, nước nhiều như vậy dùng để làm gì? Thứ nhất, và dĩ nhiên, là để uống. Nhưng cái thứ hai quan trọng hơn, và cần nhiều hơn, đó là để phục vụ cho công việc trị bệnh của Cô H. cùng những người phụ tá! Đệ đã có kể sơ về việc này ở phần trước, trong những phần sau đệ sẽ kể chi tiết hơn.
Những năm đệ còn đi chung đoàn thì đường sá khó đi hơn bây giờ rất nhiều. Đường núi vẫn chưa thông thoáng, có bậc thang chắc chắn mà gập ghềnh, nhấp nhô, quanh co ngoằn ngoèo. Phải lội bộ trong cái nắng cháy da rát thịt, gió thốc từng cơn khô khan cả người.rồi lại bất chợt hứng trọn cơn mưa núi, lúc ầm ào, khi lắc rắc, thấm ướt từ đầu tới chân. Đường đã khó đi lại càng trơn trượt, dễ té, dễ vấp, mà sơ hở vấp thì dễ có nguy cơ bị rơi xuống vực sâu, toàn là đá sắc, cây nhọn. Những ai mỏi chân không leo bộ nổi thì có sẵn nghiệp đoàn xe ôm chuyên nghiệp, chở khách lên xuống núi thoăn thoắt như con thoi. Không biết những người gan dạ thì sao, chứ riêng đệ thì xin cạch hẳn sau 2 lần nếm trải cái cảm giác phiêu lưu, mạo hiểm ấy. Đệ đã để rơi mất hồn vía tận đẩu trên lưng chừng núi, trái tim cũng đã sắp lọt ra khỏi lồng ngực mấy lần. Trong lúc ngồi sau chiếc xe máy đang uốn lượn như diễn xiếc trên những khúc đường hẹp, ngoằn ngoèo, một bên là vách núi, bên kia là vực thẳm, đệ đã quên sạch những lễ nghi phép tắc, những e ấp ngại ngùng, nam nữ thọ thọ…gì gì đó, chỉ biết nhắm mắt ôm thật chặt người tài xế (một lần là một tên thanh niên trẻ măng nhưng râu tóc luộm xuộm, một lần là một chú lớn tuổi có thân hình siêu mỏng), miệng liên tục cầu Trời khấn Phật cho con bình an vượt qua trận này.
Vừa bước xuống xe, mặt như tàu lá, mồ hôi đầm đìa, chân run lẩy bẩy, đệ lê bước kiếm chỗ nào bằng phẳng mà ngồi phịch xuống, vừa thở hổn hển vừa sờ nắn khắp người xem có còn nguyên vẹn!!! Mô Phật.
Chắc huynh sẽ thắc mắc, nếu đáng sợ như vậy thì một lần đã đủ tởn, sao lại có lần rhứ hai? Xin thưa với huynh rằng, lần hai là đệ bất khả kháng. Bởi trời đã tối, cả đoàn phải tranh thủ xuống núi để di chuyển qua điểm khác.Mọi người đều thống nhất là sẽ cùng đi xe ôm. Đệ ngồi chung với một người nữa. Đoạn lên núi đã kinh khủng thì đoạn xuống núi này …không biết dung từ nào để diễn tả!
Chiếc xe không mở máy, chỉ lao xuống theo lực nghiêng của dốc (mà dốc luôn nghiêng, quá nghiêng). Nhiệm vụ duy nhất của tài xế là kiểm soát tốc độ bằng cách chân đạp, tay bóp thắng liên tục. Cũng có nghĩa là, ba sinh mạng trên chiếc xe này hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng của bộ phận hãm phanh, mà không biết tài xế đã kiểm tra lần cuối vào lúc nào(!) Giờ đệ mới ngẫm lại, mỗi khi di chuyển bằng xe như thế, người tới trước đều tập trung lại một chỗ để đợi người tới sau, khi nào đủ mặt mới trả tiền một lượt, âu cũng là để đảm bảo “đi sao về vậy”.
Nghe mẹ đệ bảo rằng những năm sau này, quân đoàn xe ôm đó không còn rặt nam giới nữa mà đã có 1 số bác tài là phụ nữ. Tay lái và sự dạn dĩ cũng không hề thua kém phái mạnh.
Biết được chuyện này, đệ cảm thấy vừa thương, vừa nể họ. Thương là bởi vì cuộc chiến mưu sinh ngày nay càng trở nên quá đỗi khốc liệt, những người vợ, người mẹ phải tạm bỏ lại gia đình, con cái mà lao ra kiếm tiền, bằng nhiều cách, kể cả những công việc nguy hiểm như thế này. Nhưng thương như vậy rồi thì lại cảm thấy buồn quá. Bởi chúng sanh mạng khổ, cứ trôi lăn trong bể khổ trần ai, do nghiệp báo đeo mang, cái khổ muôn hình vạn trạng, không sao kể xiết.
Thế nên đệ chuyển sang thấy nể họ. Qủa thật là họ rất biết làm ăn, biết đáp ứng thị trường, thỏa mãn tâm lý khách hàng. Đa số người cần đi xe ôm là phụ nữ, trẻ em, những người yếu sức mỏi chân. Lúc bình thường, đi xe ôm là đã phải ôm (trường hợp này không ôm thì cũng được), còn trong hoàn cảnh trên thì không ai không thể không ôm. Chẳng những ôm mà còn ôm chặt, siết, bấu, víu, nắm áo, kéo cổ,…đủ kiểu. Chưa kể nhiều cô sợ quá còn la hét, khóc lóc um sùm! Vậy mới thấy, nếu cánh tài xế toàn bộ là đàn ông, sẽ có nhiều bất lợi. Thứ nhất, khách e ngại, mắc cỡ, thôi thì ráng đi bộ cho xong. Vậy là mất khách. Thứ hai, những phản ứng quá khích trên dễ có khả năng gây sự xáo động, phân tâm cho người chạy, đặc biệt là trong trường hợp khách nữ quá xinh xắn, nhạy cảm, rủi anh tài xế lo tranh thủ cơ hội tán tỉnh, nói hươu nói vượn, trổ tài lạng lách…thì nguy to.
Thế cho nên, việc xuất hiện tài xế nữ đã góp phần không nhỏ trong vai trò giải quyết các vấn đề tâm lý cho cả người chạy và người ngồi sau. Rất thỏa đáng! Đệ nể họ, bởi đâu cần mài đũng quần trường kinh tế, vẫn có thể làm ăn kinh doanh phà phà!
Đạo huynh,
Những nỗi gian nan mà đệ muốn nói đâu chỉ dừng lại ở đó. Chỉ mới đề cập tới chuyện đi đứng, còn chuyện ăn uống, ngỉ nghỉ, tắm rửa vệ sinh, đâu đâu cũng lắm bi ai.
Thức ăn người trong đoàn chuẩn bị sẵn đem theo chỉ đáp ứng một phần nhu cầu. Bởi làm sao suốt mấy ngày trời chỉ ăn hoài muối tiêu, muối ớt, tàu hũ ki sấy khô, thi thoảng cũng có vài món mặn như tép rang, dưa mắm,…Chỉ có trái cây, ổi, xoài, chuối, chôm chôm, dưa hấu,…thì ăn bao nhiêu cũng không ngán, nhưng mấy thứ đó lại nặng nề không thể mang nhiều. Vậy là đành phải “bạ đâu ăn đó”, ghé quán dọc đường.
Nhưng đã gọi là quán dọc đường thì tiềm ẩn biết bao nguy cơ. Ngoài việc bị chặt chém thẳng tay, không thương tiếc , không ít trường hợp ngộ độc thức ăn đã xảy ra.
Đang lúc mệt rã rời, đói rã ruột , nhìn thấy dĩa bánh xèo vàng ruộm, thơm nức mũi, bên cạnh là đống rau núi xanh um, non nhuốt, chén nước mắm sóng sánh mời gọi. Ôi chao, mấy ai có thể cầm lòng! Ai vẫn chưa bị thu hút bởi món bánh xèo trên thì mời nghía tiếp. Nồi nước lèo óng ánh, khói bốc lên nghi ngút, đưa mùi thơm thoảng bay, trong nồi thoắt ẩn thoắt hiện nào là măng rừng mới hái, nấm tươi mới về, cà chua đỏ au, đậu hũ mịn màng. Cô chủ quán cười đon đả, chìa ra tô bún trắng ngần, bên trên là rau muống, hoa chuối, rau thơm,…
Đệ chỉ mới kể hai món mà đệ ấn tượng nhất, còn lại thì cơn chay, cơm mặn, bánh bao,…thỏa sức mà chọn lựa.
Thế nhưng, (lưu ý là ở đây có một chữ NHƯNG to đùng) người nào đã từng vài lần, thậm chí là chỉ cần một lần dùng qua sẽ hiểu thế nào là “con mắt nó khều cái mũi, cái mũi nó chỉ cái miệng, cái miệng nó hại cái thân”. Đẹp đó, thơm đó, nhưng ăn đi rồi biết. Mẹ đệ đã từng có lần (không phải một lần) trúng thực vì cái món “ măng rừng mới hái” độc địa đó. Nhức đầu, đau bụng, ói mửa, choáng váng rụng rời chân tay. Đệ cũng đã có vinh hạnh được Tào Tháo thăm viếng vì những món ăn hấp dẫn mời gọi ấy. Và cũng đã từng có trường hợp cả đoàn cùng bị ngộ độc.
Dĩ nhiên, không phải ai ăn cũng bị, cũng không thể quy chụp tất cả các hang quán trên núi đều cẩu thả, mất vệ sinh. Nhưng phòng bệnh hơn chữa bệnh, kế sách vẹn toàn là mang theo nguyên liệu, dụng cụ, tới chỗ nghỉ thì dỡ ra nấu nướng, ăn nóng tại chỗ. Tuy lỉnh kỉnh nhưng an toàn.
Hiện nay, theo đệ được biết thì rất ít hoặc hầu như không còn các quán ăn dọc đường, đôi chỗ cũng chỉ có bán cơm trắng cho khách mà thôi.
Đã nói ăn, thì phải nói tới ngủ. Tại Thất Sơn, có rất nhiều nơi cung cấp chỗ nghỉ đêm dọc đường cho các đoàn hành hương, nhưng hầu hết đều hết sức tạm bợ qua loa. Một nền xi măng rộng, dài xây cao hơn nền nhà một chút, cách khoảng có các cây cột gỗ để làm chỗ mắc mùng. Đoàn tới nghỉ sẽ thuê vài cái mùng tùy theo số lượng người. Mùng đây là loại mùng lớn, có thể đủ chỗ cho 5, 10 người. Khoảng 9, 10 giờ đêm thì chủ nhà tắt đèn (để tiết kiệm điện), toàn bộ tối om. Nhưng mà muốn ngủ cũng khó, vì thường rất ồn ào, tiếng trò chuyện cười nói râm ran tới tận khuya. Và dĩ nhiên là “hồn ai nấy giữ”, đồ đạc tư trang tự bảo quản. Lỡ mà đi đường mệt mỏi ngủ mê như chết, bị khiêng mất thứ gì đó thì cũng đành cắn răng chịu chứ sao giờ!
Chỗ ngủ đã tạm bợ như thế thì khu vệ sinh cũng chẳng khá khẩm gì mấy. Đệ không cần tả nhiều chắc huynh cũng có thể mường tượng ra được khu vệ sinh tắm rửa cũ kỹ, được sử dụng bởi không biết bao nhiêu người, vừa có mùi, vừa có màu (rêu bám xanh lè, mốc meo đen kịt). Những người kỹ tính một chút đều phải một phen lao đao. Nhưng đành nhắm mắt cho qua, bởi dù sao vẫn hơn những khu “lộ thiên, ngàn sao” dọc đường đi. Mô Phật.
Nói tới đây, đệ nhớ một chi tiết nhỏ nhưng không hề nhỏ, đã khiến đệ ấn tượng mãi. Số là đệ mới đi lần đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, đang đi chung với đoàn thì đệ có “nhu cầu”. Đàn ông con trai thì quá dễ dàng rồi, con gái như đệ quả thật vô cùng khó xử. Và đệ được hướng dẫn, được nghe rằng, ở đây là chốn linh thiêng, nơi nào cũng có “mấy ổng, các Ngài” hiện hữu, Mình là phàm phu tục tử, con cần thì cứ giải quyết không sao, nhưng nhớ tìm chỗ khuất, vái với Sơn thần, Thổ thần thông cảm, bỏ qua cho. Nói thật, đệ nhấp nhổm không yên. Ở chỗ rừng núi vắng vẻ, chui vô chỗ khuất, cứ nơm nớp lo có khách lạ tiến tới chào hỏi (gì chứ những loại như sâu, cuốn chiếu to bằng con lươn nhỏ, rắn rết,…ở đây đâu có thiếu!), chưa kể lại thấy áy náy, mặc cảm với các Ngài vì sự hoen ố!
Thưa đạo huynh,
Những điều đệ kể trên chỉ là sự gian nan trên đường đi, vẫn chưa toàn diện. Bên cạnh đó, vẫn còn có nhiều khó khăn, trắc trở riêng của từng người tìm đến với đoàn hành hương. Có người nghèo khó không kiếm đủ tiền lộ phí, có người công việc bề bộ, đa đoan, lại  có người bị người thân ngăn cản, nghi kỵ, …
Vậy thì câu hỏi ở đây là, tại sao họ có thể khắc phục mọi khó khan, thu xếp mọi nghịch cảnh để tham gia cuộc hành trình tâm linh này? Và tại sao trên đường đi đầy rẫy trắc trở như vậy mà họ vẫn không chùn bước, ngược lại càng tin tưởng, phấn chấn, ham thích?
Phải chăng, đó là sự từ bi gia hộ, là cảm ứng cho tấm lòng thành, là sự hỗ trợ của sức mạnh linh thánh,  như họ được rao giảng và đã khắc sâu trong tâm khảm họ? Phải chăng, đó là mối duyên lành sâu xa đã thúc đẩy họ tìm đến với bề trên thần thánh?
Với đệ lúc này, câu trả lời tinh yếu và chính xác nhất, chỉ có thể là: Bởi vì họ đã sa vào lưới quỷ.
Nhưng, quỷ là ai? ở nơi nào? Đã hóa hiện những “quỷ thông” gì để lóa mắt con người? đã tạo ra những cảnh quỷ gì? Từ đó con người đã làm ra những chuyện ma quỷ gì?
Xin hẹn huynh, hạ hồi phân giải.
Cần Thơ, ngày 22 tháng 08 năm 2014
Kính thư,
Pháp đệ, Mật Giác Đăng.


Vui lòng đăng nhập để xem tiếp nội dung bài viết. (Danh sách bài cho bạn đọc chưa có tài khoản tại đây). Please login to read more... (Posts for whom haven't owned account are here)

Existing Users Log In
   
DMCA.com Protection Status