Jan 4, 2018

Posted by in Giáo điển | 14 Comments

Mật Linh Nguyên đối luận với Tiến sĩ Thích Nhật Từ – Chương IV : Pháp môn duy nhất của Đức Phật- sách Đạo Phật Pháp Môn và Đạo Phật Nguyên Chất: Bài 4: LỐI HẸP DÀNH CHO KẺ NGỤY BIỆN

ĐỐI LUẬN VỚI TIỀN SĨ THÍCH NHẬT TỪ – Chương IV : Pháp môn duy nhất của Đức Phật- sách Đạo Phật Pháp Môn và Đạo Phật Nguyên Chất

Bài 4: Lối hẹp dành cho kẻ ngụy biện

Trong bài này tôi khẳng định luận điểm ““Các pháp môn Trung Quốc dư một chất, vì chỉ dựa vào một vài bài kinh, thiếu các chất còn lại, vì bỏ quên gần 30.000 bài kinh khác của đức Phật, không thể toàn diện được. Nếu một bài kinh có thể trị bá bệnh cho chúng sinh như Trung Quốc đã tuyên bố, đức Phật chẳng nhọc công 45 năm thuyết giảng chi cho mệt”.” của ông TNT là hoàn toàn chủ quan khinh suất.

Tuy nhiên điều đó vốn được ông TNT cố ý sắp xếp cho một vở tuồng của chính cuộc đời ông theo một thủ đoạn mà người Tàu vẫn dùng “tiên hạ thủ vi cường” với diễn trình : lấy Tứ diệu đế làm bình phong – lập lờ  đáng tráo khái niệm, biến chân lý thành pháp môn để đi đến một sự độc tôn về pháp môn – lấy đây làm điểm tựa để đả phá, hạ bệ các Tổ, các tông phái khác, nhằm tạo sự cách biệt về đẳng cấp của người cư sĩ với tăng sĩ – dẫn dắt nhận thức chúng sinh vào lối đi mà ông ta tạo ra : đạo Phật nguyên chất ( mà ai là người khởi xướng? – ông TNT).  Đến đây hoàn tất việc phá sản các tông phái khác để mình ông chiếm lĩnh ngôi vị tối cao trong ban bố giáo pháp Phật đà.

Tâm kế này thật chu đáo và hoàn hảo, nó được dọn đường và điều hướng qua nhiều cuốn sách, CD giảng thuyết của ông TNT. Nếu với thời đại mà phương tiện thông tin chưa phát triển thì chắc chắn kế hoạch sẽ hoàn tất một cách mỹ mãn theo ý ông. Tuy nhiên, dụng sự cần phải gặp thời mới thành. Tiếc là ông TNT hành sự vào thời thông tin phát triển nên kế hoạch ấy đã bị phát hiện bởi trách nhãn mà Đức Phật đã trang bị . Ở Trung tâm Nghiên cứu  thực hành và Ứng dụng Yoga Tây Tạng Mật Gia Song Nguyễn, được vị Thầy trang bị trạch pháp nhãn nên phát hiện ra những loại “ hàng giả, hàng nhái “ loại này không có gì trở ngại. Trong bài này tôi xin được tiếp tục cởi nốt tấm áo cuối cùng của tâm kế này cho ông TNT thấy và bạn đọc được mục kích.

1/ Thiên đường hữu lộ vô nhân vấn

Người sử dụng tâm kế phải có trí tuệ vượt người khác thì mới hy vọng công thành. Ông TNT cũng sử dụng tâm kế mà tiếc rằng không có được điều đó, vậy nên ngay trong cách hành ngôn luôn phạm phải điều tối kỵ là lời nói sau “tự khai” ra lời nói trước. Do vậy đây là thực trạng của ông ta hiện bày qua cách hành ngôn:

Khi nói về các Tổ, các Tông phái khác ông  khẳng định như này:

Truyền bá đạo Phật theo pháp môn nghĩa là lấy 1-3 bài kinh làm nền tảng. Đại đa số Phật tử nếu không tự học thêm, không đến các trường Phật học để nghe giảng, không đến các giảng đường để học Phật pháp sẽ bị mù chữ Phật pháp tập thể. Giống như một người nào đó, suốt một kiếp người chỉ đọc một quyển sách có vài trang thì làm sao đủ kiến thức về thế giới, cuộc sống, sức khỏe, tuổi thọ, ăn uống và nhiều phương diện khác. Gần như “đóng bít cửa ngõ” tri thức của mình với thế giới còn lại. Đó là sai lầm nghiêm trọng mà phần lớn các Phật tử Việt Nam bị vướng kẹt vào, do việc ảnh hưởng theo đạo Phật Trung Quốc

Mượn lăng kính của các vị Tổ sư để tiếp cận Phật giáo chỉ là phiến diện. Ai tu tập theo các pháp môn của Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Bắc Triều Tiên, Việt Nam và Tây Tạng thì gần như đánh mất cơ hội tiếp cận đạo Phật có hệ thống và toàn diện. Khi một chủ trương nào đó được lặp đi, lặp lại qua các phương tiện truyền thông, qua giáo dục, sự truyền tụng của các vị Tăng sĩ thì cái đó mặc nhiên được nâng lên thành chân lý. Cái được xem là phiến diện trở thành toàn diện, cái chưa phải là lời Phật dạy thì lại được nâng lên như lời Phật dạy. Hậu quả của cách truyền đạo này đã làm cho đạo Phật mất dần thế đứng.

“Các pháp môn của Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Nam, Bắc Triều Tiên bỏ qua phần lớn hai yếu tố đầu là văn tuệ và tư tuệ, nghĩa là không đọc nhiều kinh. Văn tuệ thì phải đọc nhiều kinh, để thâm nhập kinh tạng và nhờ đó trí tuệ mới như biển lớn”

Nhưng khi tự nói về mình ông TNT lại nói thế này:

Sau khi trở về lại chùa Giác Ngộ, tôi đọc lại kinh Tứ Diệu Đế, kinh Tứ Niệm Xứ và kinh An Ban Thủ Ý mới thấy rất rõ rằng, các phương pháp của đức Phật có trình tự bài bản hơn phương pháp của các Tổ

Vậy đấy!  Các  vị Tổ sư các Tông phái lấy một số kinh để lập Tông là phiến diện, là thiếu toàn diện. Còn ông tiến sĩ chỉ cần đọc lại 3 cuốn kinh là “thấy rất rõ ràng” nghĩa là đã thẩm nhập vào những cuộc đời và chứng ngộ của chư Tổ để thấy sự khiếm khuyết của các vị Tổ ( so với Đức Phật)

Có nói rằng “ Người thấy được khuyết điểm của ta là Thầy ta” . Phản chăng ông TNT đã ngầm đặt mình ngang hàng với Phật ,  là “thầy”  của các bậc Thánh Đức như : Đức Thiên Thân  của Câu Xá Tông, Đức Ha Li Bạt Ma của Thành Thiệt Tông,  Đức Long Thọ của tam Luận Tông, Đức Mã Minh của Hoa Nghiêm Tông … Đức Đức Liên Hoa Sanh của Mật Tông Tây Tạng … cho đến Đức Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông của Thiền Trúc Lâm  rồi hay sao ? Chao ôi ! Điều này tôi thật không dám nghĩ đến, không dám tỏ bày …

Nhưng tiếc rằng ông TNT là người đọc sách nhưng lại để mình trở thành con mọt sách. Nghĩa là chỉ ngấu nghiến những con chữ để cho no cái bụng tham danh lợi mà quên mất một điều rằng học là để thẩm thấu, tư duy và thực hành sau đó đem ứng dụng vì lợi ích của mình và  cộng đồng.

Đối với con mọt thì là sự ăn, nên có chăng là là hư cuốn sách mà thôi. Nhưng đối với người tu thì hư cả một đời và cả huệ mạng ngàn kiếp tích tập. Vậy nên không ai nói con mọt nó ngu , mà người học không ra gì thì gọi là ngu. Ngu đến nỗi ngớ ngẩn không biết được thời Phật tại thế thuyết pháp chưa có chữ viết mà đều nghe thuyết giảng và sau đó thực hành theo đó mà đắc quả. Vào thời đó để nghe được một lần Đức Phật thuyết pháp phải lặn lội bộ xe hàng trăm cây số để nghe, nên có chuyện rằng ngài Cấp Cô Độc phải băng mình trong đêm qua mấy chục cây số tìm Đức Phật giữa đêm để được nghe Ngài thuyết pháp … Cho mãi đến 200 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt mới có cuộc kết tập đầu tiên. Vậy thì ngày đó lấy đâu ra 3000 bài kinh để nghe vậy ông TNT?

Vậy mà lúc bấy giờ, chỉ cần một pháp thôi  đã có biết bao nhiêu bậc thánh. Hình như cái đầu của ông chứa ắp tà tư tà niệm nên quên mất rằng trong Kinh (nguyên thủy) đã nói về điều này rồi . Tôi đưa ra một số chứng cứ về vệc các vị Thánh chứng đạo quả mà không phải học hầu hất các bài kinh như ông tự ý diễn giải:

Kinh tiểu bộ tập 3:

Ngài Kula (Thera. 4)  : Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn, xuất gia và vì tâm tư chưa được thăng bằng, ngài không chú tâm được trên một đề tài nhất định. Một ngày kia đi khất thực, ngài thấy người dẫn nước bằng cách đào cách kinh dẫn nước. Trong thành phố, ngài thấy người làm cung tên uốn nắn cung tên bằng nheo một con mắt như thế nào, và khi trở về với bình bát đầy đồ ăn, ngài thấy những người làm xe sửa soạn trục xe, bánh xe và vành xe như thế nào. Bước vào tịnh xá, dùng cơm xong, khi đang nghỉ trưa, ngài nghĩ đến ba phương pháp nhiếp phục này, và lấy chúng làm khích lệ và dùng chúng để tự mình tu tập, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Liên hệ những bài học này với sự tu tập tâm của mình, ngài nói lên lời chánh trí với bài kệ như sau:

19. Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm nên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc tự điều, điều thân.

Trườn hợp này Ngài Kula quán 3 đề mục để nhiếp phục tâm mà chứng quả Alahan

Ngài  Cittaka (Thera. 4)

Ngài sanh ở Ràjagaha, con một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi bậc Ðạo Sư ở vườn Trúc Lâm, Cittaka đến nghe đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lựa giới luật làm đề tài tu tập, ngài vào một khu rừng và tu tập thiền định, với thiền quán khai triển, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài đi đến đảnh lễ đức Phật, được các vị đồng Phạm hạnh hỏi ngài có tinh tấn tu hành khi ở trong rừng không, ngài trả lời có và với bài kệ này, ngài nói lên chánh trí của ngài.

22. Chim công, màu xanh biếc,

Cổ đẹp, có màu tươi,

Ðang gọi nhau trong rừng,

Rừng Kà-ram-vi-yà,

Với gió mát tiếng trong,

Chúng gọi và thức dậy,

Vị hành thiền đang ngủ.

Trường hợp này Ngài Citaka lấy giới luật làm đề tài tu tập mà chứng quả A la hán

Ngài  Nandiya (Thera. 5)

Ngài được sanh ở Kapilavatthu, trong nhà một vương tộc Thích-ca, và cha mẹ ngài nói: ‘Con ta sanh đem lại hoan hỷ trong nhà’ và đặt tên ngài là Nandiya. Lớn lên, ngài xuất gia, khiAnuruddha và các bạn đều xuất gia. Nhờ chú tâm học tập và lời phát nguyện quá khứ, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài sống với Trưởng lão Anuruddha và các bạn tại rừng Trúc phía Ðông. Tại đấy, Ác-ma muốn làm ngài sợ hãi,hiện ra trong hình thù rất dễ sợ, nhưng ngài đuổi Ác–ma đi với những lời như sau: ‘Này Ác-ma, Ngươi làm gì với những người đã vượt qua cảnh giới của ngươi. Do vậy, Ngươi chỉ gặp thất bại và bất hạnh’.

25. Với ai, tâm thường hằng,

Hướng mạnh về Chánh pháp,

Pháp phát sanh hào quang,

Pháp đạt đến Thánh quả,

Vị Tỷ-kheo như vậy,

Nếu Nhà ngươi muốn chống,

Hỡi này kẻ Quỷ đen!

Ngươi đi đến đau khổ.

Trường hợp Ngài Nandiya do lời nguyện phát trong quá khứ và thực hành chánh pháp mà chứng quả A la hán.

(Tiểu Bộ Kinh – Tập III)

Trong 2 chương Trưởng lão tăng kệ và trưởng lão ni kệ có rất nhiều tấm gương các vị Thánh giả tu học và thực hành theo đề mục : thiền quán, nhiếp tâm, giới luật … mà chứng quả Alahan …

Trong bộ chú giải Pháp Cú, tích ông đao phủ tên Tambadāṭhikacoraghātaka,  ông hành nghề giết tội nhân trộm cướp theo lệnh của Đức vua suốt 55 năm để nuôi mạng. Đến khi tuổi già sức yếu, ông xin nghỉ việc về hưu.

Một hôm Ngài Đại đức Sāriputta đi khất thực, ông thỉnh Ngài vào trong nhà để làm phước bố thí vật thực. Ngài Đại đức Sāriputta thuyết pháp tế độ ôngSau khi nghe pháp xong, ông đã chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu.

Cùng trong chú giải Pháp Cú, tích người thợ săn tên Kukkuṭamitta(1) làm nghề săn bắn thú rừng nuôi sống cả gia đình gồm người vợ, 7 đứa con trai và 7 đứa con dâu (bà vợ của người thợ săn là bậc Thánh Nhập Lưu từ khi còn con gái. Khi kết hôn với người thợ săn, bà sinh được 7 đứa con trai).

Một hôm Đức Phật ngự đến thuyết pháp tế độ họ, người thợ săn cùng với 7 người con trai và 7 người con dâu, đều chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu

Những trường hợp này chỉ nghe pháp mà chứng đắc  thành bậc Thánh Nhập Lưu

Theo kinh lá rừng Samsala, Đức Phật xác quyết thấu suốt những gì Ngài thuyết giảng, (nắm lá trong tay ) đến khi giác ngộ rồi thì sẽ có được tri kiến như Ngài (như lá trong rừng ), khi đó người đó trở thành thầy của mình “tự thắp đuốc lên mà đi” cho đến Phật quả.

Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo :

— “Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?”

— “Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.”

— “Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra! Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy

(Kinh Lá Rừng Simsapa – Tương Ưng Bộ)

Đây là những bằng chứng cho thấy sự lừa lọc của ông tiến sĩ:

Đại đa số Phật tử nếu không tự học thêm, không đến các trường Phật học để nghe giảng, không đến các giảng đường để học Phật pháp sẽ bị mù chữ Phật pháp tập thể. Giống như một người nào đó, suốt một kiếp người chỉ đọc một quyển sách có vài trang thì làm sao đủ kiến thức về thế giới, cuộc sống, sức khỏe, tuổi thọ, ăn uống và nhiều phương diện khác”.

Xin thưa ông tiến sĩ, lập luận của ông hoàn toàn sai lệch quỹ đạo chánh pháp về giải thoát đó là thay vì tập trung  (kính những bậc đáng kính, bỏ những điều đáng bỏ, tu những pháp đáng tu, thì ông lại khuyên người ta phân tán với những cái “biết” chẳng để làm gì “ hoan hỷ những điều không đáng hoan hỷ”. Nếu ông chưa được vị Thầy nào dạy qua những tri kiến này, ông nên học điều đó ở đây :

http://chanhtuduy.com/vi-sao-goi-la-duc-phat/)

Những gì ông nói trong đoạn trích trên cho thấy rõ chiêu bài “thả thính” của ông để “câu khách đến nghe những thứ tào lao dạng như những thứ ông vẽ vời ra ở cuốn sách này. Ông nên biết Phật pháp để “hành” mà không phải để “học” hay “nghe” và rằng hoạt động giác ngộ không chỉ nằm ở mỗi chuyện học hay nghe mà trải qua 10 hoạt động cốt tử: (1) lễ bái (2) sám hối (3) cầu nguyện (4) cúng dường (5) nghe pháp (6) giảng pháp  (7) chia sẻ, ấn tống kinh sách (8) niệm Phật (9) trì chú (10) thiền tập

Hơn nữa về cách lý giải phía dưới của ông cho thấy rõ ràng đây là chuyện lắp ghép thô thiển và phi Phật giáo, đó là tiêu phí năng lượng vào những điều vô bổ thay vì tập trung vào mục tiêu chính để an lạc và giải thoát. Nói thật, nếu ai đó mất thời gian để đọc những cuốn sách ông viết mới là điều đáng tiếc cho họ, thay vì họ chỉ cần biết một đoạn kệ (chả cần phải vài trang như ông nói) cũng đủ để hạnh phúc cả ngàn kiếp rồi, ví dụ:

2. Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc b
ước theo sau,
Như bóng, không rời hình.

Ở đây cái đích của ông là tung ra nắm hỏa mù về sự học nhằm :

(*) tạo nên tâm lý e dè, nể sợ  trong nhận thức của hàng cư sĩ, chúng sinh trước những người học nhiều như là hàng tăng ni, từ đó để được họ đối đãi, cung phụng

(*) khu biệt sự giác ngộ là của tầng lớp tăng ni, dành đặc quyền hoạt động tâm linh biến hàng cư sĩ thành đối tượng để sai sử phục vụ

Tôi cũng không biết ông TNT học được bao nhiêu mà  chê bai bài xích ghê gớm vậy, nhưng tôi lược qua về một lược trình của các vị tu sĩ Mật tông Tây Tạng như sau cho ông nắm được:

Phật giáo Mật tông Tây tạng tiếp thu trọn vẹn giáo nghĩa Tam thừa của Đức Phật, tuy thuộc hệ thống Đại Thừa nhưng không hề bài xích Tiểu thừa. Mặt khác, về phương diện giới luật luôn thực hành theo Tiểu thừa. Trong tác phẩm ‘Bồ đệ đạo thứ luận” Đại sư Tsongkhapa viết như sau : Tất cả các giáo pháp cùng được lưu truyền mà không đối nghịch. Tất cả mọi lời nói của Đức Phật đều là giáo huấn” , nhận định tất cả các kinh điển, giáo pháp … dù là Hiển pháp hay Mật pháp đều là những pháp môn phương tiện tiến hành giáo hóa trong từng điều kiện cụ thể, đều giữ vai trò hết sức quan trọng. Bên ngoài giữ giới luật Thanh Văn, bên trong thực hành Bồ tát đạo. Lược trình tu học của Mật Tông theo trình tự sau:

Hiển:

5 năm: Nhân minh học : nhiếp loại biện luận và thích lượng luận

4 năm: Bát nhã học: hiện quán trang nghiêm luận

2 năm: Trung quán học: nhập trung luận, trung quán luận ( Đức Long Thọ) Trung quán tứ bách tụng ( Đức Thánh Thiên)

5 năm: Câu xá học: Câu xá luận của đức Thiên Thân, tập trung nghiên cứu các bộ luận Atỳ đạt ma thượng, hạ. Luật học: luật kinh căn bản tụng

Mật :  5-6 năm nghiên cứu các bộ tổng luận và các bộ phận luận của Mật tông

Tam thừa Phật giáo được gom gọn trong 3 tinh yếu của giác ngộ bao gồm Xả ly ( Tiều thừa) Bồ đề tâm (Đại thừa) tánh không ( Mật thừa )

Như vậy toàn bộ quá trình đặc tu – học khoảng  19 – 22 năm … Sự học, sự tu thâm cẩm như vậy mà tôi chưa thấy bất kỳ vị Lama nào bài xích hay chỉ tỏ ra coi nhẹ công đức, trí tuệ và phẩm hạnh của chư Tổ Sư các Tông phái đạo Phật như ông TNT cả.

Còn ông thì sao? Wikipedia cho biết :

Ông xuất gia với Hòa thượng Thích Thiện Huệ tại chùa Giác Ngộ năm 1984 và thọ giới tỳ kheo năm 1988. Ông trụ trì tại chùa Giác Ngộ từ năm 1992. Sau đó, Thích Nhật Từ du học tại Ấn Độ năm 1994 và tốt nghiệp tiến sĩ triết học năm 2001.

Hiện nay, Thích Nhật Từ trụ trì tại chùa Giác Ngộ (TP.HCM và Vĩnh Long), chùa Vô Ưu (Q. Thủ Đức), chùa Tượng Sơn (Hà Tĩnh), chùa Linh Xứng (Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa)

Thích Nhật Từ là người sáng lập “Hội Ấn Tống Đạo Phật Ngày Nay”, “Hội Từ Thiện Đạo Phật Ngày Nay” và Chủ nhiệm Đại tạng Kinh Việt Nam. Từ năm 2006, ông là Trưởng Khoa Triết học Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM, Phó viện trưởng, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM. Thành viên Ban biên tập Đại Tạng kinh Việt Nam, Giám đốc hội Đạo Phật Ngày Nay)

Tháng 12 năm 2010, ông chính thức được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa sớm hơn ba năm so với quy định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (45 tuổi đời, 25 tuổi hạ)

Thích Nhật Từ đã theo học các hòa thượng Thích Minh Châu, Thích Thiện Siêu, Thích Huệ Hưng, Thích Huệ Đăng, Thích Từ Thông, Thích Trí Quảng, Thích Minh Cảnh, Thích Nguyên Ngôn, Thích Thiện Nhơn, Thích Thiện Tâm, Thích Thiện Trí, Thích Giác Toàn và thiền sư Duy Lực.

Trong các năm vừa qua, Thích Nhật Từ đã tham dự và thuyết trình các hội thảo trong nước và nước ngoài như: Phật giáo và du lịch tâm linh (New Delhi), Hội thảo tăng đoàn Phật giáo quốc tế Phật Quang Sơn (Cao Hùng), Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo lần thứ IV (Bangkok), Hội thảo giáo dục Phật giáo tại Pháp Cổ Sơn (Đài Bắc), Diễn đàn Phật giáo thế giới lần thứ I (Hàng Châu), Hội thảo của Hội Liên hữu Phật tử thế giới lần 23 (Cao Hùng), Hội thảo Phật giáo thế giới lần thứ nhất (Kandy), Hội thảo PG quốc tế về Phật giáo trong thời đại mới (Thành phố Hồ Chí Minh), Hội thảo Phật giáo nhập thế (Thành phố Hồ Chí Minh), Hội thảo quốc tế về châu Á đa dân tộc và đa ngôn ngữ (TP.HCM), Hội thảo Phật giáo thế giới tại trường Mahachulalongkorn năm 2006 và 2007.

Thích Nhật Từ kêu gọi Tăng ni và Phật tử hãy quay trở về với đức Phật gốc ? thực tập và truyền bá “Tứ thánh đế” (thừa nhận khổ đau, truy tìm nguyên nhân, trải nghiệm niết-bàn và thực tập bát chánh đạo), thay vì phải tiếp tục bị ảnh hưởng bởi phương pháp Phật học của Trung Quốc theo phong cách tổ sư ? Tứ diệu đế là pháp môn thù diệu, một đóng góp vô tiền khoáng hậu của đức Phật cho lịch sử tư tưởng tôn giáo thế giới ? (Đạo Phật là tôn giáo ?)”

Xem ra cái sự tu tập và học của ông cũng ít ỏi khoảng 10 năm,  phần lớn là dành thời gian cho các hoạt động thế tục “ tốt nghiệp đại cương cử nhân Anh văn (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 1994; Cao học triết học (Đại học Delhi, 1997) và Tiến sĩ triết học (Đại học Allahabad, 2001).”, loanh quanh trong thành kiến về văn hóa , chạy xô qua kiến trúc, mỹ thuật , ngôn ngữ:  “Ngoài ra, Thích Nhật Từ còn kêu gọi Tăng ni Phật tử Việt Nam quay trở về, bảo tồn và phát huy nền văn hóa Phật giáo Việt Nam cho cộng đồng Việt Nam; không lệ thuộc vào phương pháp Phật học, tu tập, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật của Trung Quốc,vốn đã bám rễ vào Việt Nam hơn 2000 năm qua. Ông kêu gọi thuần Việt hóa nghi thức tụng niệm, câu đối, bảng hiệu chùa. Tại Việt Nam, theo ông, tất cả nên dùng tiếng Việt để giới thiệu nền minh triết của đức Phật cho con người Việt Nam và việc sử dụng nền Phật học của Trung Quốc đã giết chết tinh thần sáng tạo và đóng góp của Phật giáo Việt Nam” vốn là những việc thuộc về bát phong kiến chấp trần trược là trở ngại của người tu, không những thế thể hiện tính thủ chấp không tôn trọng lịch sử .

Thời gian còn lại chủ yếu cho việc đi lại, nói, tham gia các hội thảo… mất thêm mấy năm lem lấm tục sự bon chen lấy tấm bằng tiến sĩ thế tục làm của nả … Các bậc Thầy của ông dịch, giảng dạy : Kinh Thủ lăng Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Lược Sử Đức Lục Tổ, Pháp Môn Tu Chứng Lăng Nghiêm Đại Định. Kinh A di đà, Kinh Dược SưKinh Đại Bảo Tích …

Khi ông có chút lông cánh rồi và đợi cho chư vị viên tịch thì quay ra trước phỉ báng kinh Phật, sau bài bác sở học và đạo nghiệp của các Thầy mình …

Về cả Đạo lẫn Đời đây không phải là cách làm của một con người lương thiện  theo truyền thống tôn Sư trọng Đạo, đừng nói chi đến tư cách của một người con Phật. Chưa nói với dòng tâm thức lệch lạc đó ông còn “Năm 2014, ông đã biên soạn và in hàng ngàn quyển “Kinh Phật cho người tại gia”. Điều này quả thật là “thảm họa”. Tôi không biết ông có hổ thẹn mỗi khi lấy tay sờ vào chiếc đầu trọc hay khoác  lên mình bộ y áo tu sĩ đạo Phật  chăng ? Ngoài ra tôi cũng thật lấy làm xấu hổ vì một người trình độ nghiên cứu, lý luận dạng này mà lãnh nhiệm nhiều chức vụ chuyên môn như thế thì hỏi làm sao Phật giáo nước nhà hưng khởi được? Nhưng lại cũng lấy làm bội phục vì cái cách ông xoay xở để ngồi trên những chiếc ghế đó đến giờ. Phải nói ông cũng tài thật đấy !

Nhân gian có nói rằng “con ếch ngồi dưới chiếc giếng cạn chỉ thấy trời bằng cái vung”  và những chiếc thùng rỗng thường hay kêu to là vậy. Xem ra Giáo hội cần phải xem lại thực lực của ông, và tín chúng cần phải một lần bái ngưỡng thủ pháp “đầu dê thịt chó” của ông rồi.

2/ Địa ngục vô môn hữu khách tầm

Về tính học thuật trong chương 4 của cuốn sách này tôi xin chỉ ra một số luận điểm mà ông TNT lập luận theo “tâm ý mình”  trái với khuyến cáo của Đức Phật trong kinh 42 chương và  sai với quỹ đạo Chánh pháp như sau:

(1) Ông cho rằng : “ Đức Phật chỉ có một pháp môn duy nhất là Tứ Diệu Đế, mà cốt lõi của Tứ Diệu Đế là Bát chánh đạo” là : “ con đường độc lộ” để đi đến giải thoát.

Cách dùng từ của ông không chuyên nghiệp. Ví dụ : “Đức Phật chỉ có một pháp môn duy nhất là Tứ Diệu Đế”, một = duy nhất, viết  đúng phải là “Đức Phật chỉ có pháp môn duy nhất là Tứ Diệu Đế”.

Hay một ví dụ khác : “con đường độc lộ”, vì “đường” = “lộ” , viết đúng phải là “ độc lộ” …

và còn vô số những lỗi sai khác về ngữ pháp trong sách của ông… Điều đó thể hiện sự thiếu những học vấn cần thiết của người làm biên tập, trước tác …

(2) Đức Phật không chỉ  có Tứ diệu đế mới đạt đến giải thoát. Trong 3 lần chuyển pháp luân Đức Phật đã thuyết nhiều diệu lý. Ví dụ Đức Phật đã thuyết  Thập nhị nhân duyên , và những bậc Bích Chi Phật theo con đường này mà đạt thánh quả. Trong kinh Tương Ưng Bộ II (Samyutta Nikàya), Ðức Phật đã thuyết minh về mười hai nhân duyên (Duyên khởi) như sau:

“Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh sinh, có lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khỗ uẩn sinh. Ðây gọi là Duyên khởi”.

“Do đoạn diệt [2] tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt; do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt; …; do sinh diệt nên lão tử, sầu bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khỗ uẩn đoạn diệt. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là đoạn diệt”.

Đức Phật dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Phật (Ta)”. Thấy Phật là thấy được thực tại tối hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã tính.

Khi Đức Phật đạt Đạo dưới cội Bồ Đề, Ngài vốn biết rõ như thật rằng những điều Ngài thấy nhân gian không tin (Pháp khó tin). Nhưng vì lòng bi mẫn Ngài đã chuyển pháp luân đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như với một tri kiến dễ hiểu nhất là Tứ diệu đế. Nếu lúc này mà Ngài thuyết  những diệu lý khác liệu họ có thẩm thập được không? Sự học cần đi từ thấp đến cao. Là bậc Toàn giác, Ngài biết rõ Ngài giảng dạy điều gì.

1. Lần chuyển pháp luân thứ nhất: Đức Thế Tôn thuyết về Hữu giáo qua các giáo lý cơ bản là Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên. Thời kỳ này là nền tảng tạo thành các tông phái Nguyên Thủy (cũng còn gọi là Tiểu Thừa) và Hữu Bộ. Các bộ kinh điển chính ghi lại trong thời kỳ này bao gồm bốn bộ A Hàm và Trường Bộ Kinh [14].

2. Lần chuyển pháp luân thứ hai: Đức Thế Tôn thuyết về Vô (Bát Nhã, Tánh Không, Nhị Vô Ngã). Đó là những giáo lý để sửa soạn mở đường vào Đại thừa, và chính những giáo lý Đại thừa, qua các lần thuyết giảng cơ bản về “Nhất thiết pháp không” (Không Tông). Các bộ kinh điển ghi lại trong thời kỳ này bao gồm các bộ kinh như Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh, Bát thiên tụng bát-nhã kinh, Đại phẩm bát-nhã kinh, Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh[15]

3. Lần chuyển pháp luân thứ ba: Đức Thế Tôn thuyết về Trung Đạo. Thời kỳ này thuộc về Đại thừa và hậu Đại thừa. Các bộ kinh điển ghi lại bao gồm các kinh Giải Thâm Mật, các bộ Đại Phương Quảng như Hoa Nghiêm Kinh, bộ Như Lai Tạng Kinh, và Đại Bát Niết Bàn Kinh[16], v.v…

Phải nói rõ rằng trong thời kỳ Đức Phật Thích Ca còn tại thế thì không có sự phân biệt và đặt tên gọi là Tiểu Thừa hay Đại Thừa. Tất cả lúc ấy chỉ là những lời giảng dạy của Ngài dẫn dắt hành trì đi từ bài pháp đầu tiên cho đến bài pháp cuối trước khi Ngài Bát Niết Bàn.”

Vậy nên cho hàng hậu học  nhận thức được, Ngài đã dạy Tứ pháp ấn để có được lối mở thâm nhập vào giáo lý. Nhắc ông nhớ, Đức Phật tùy căn trí chúng sinh, tùy duyên mà giảng pháp  do vậy ông đừng thập cẩm lẫn lộn giáo lý. Nếu theo cách lập luận của ông thì dẫn đến chống trái trong lời Đức Phật dạy. Ví dụ như đoạn kệ 373 Ngài dạy :

273. Tám ngành, đường thù thắng,
Bốn câu, lý thù thắng.
Ly tham, pháp thù thắng,
Giữa các loài hai chân,
Pháp nhãn, ng
ười thù thắng.

Ở chổ khác Ngài lại dạy:

“Chư hành vô thường

Chư Pháp vô ngã

 Thọ thị bất tịnh

Niết bàn tịch tĩnh”.

Như vậy 8 ngành hay 4 câu hay pháp thù thắng … rồi cũng bỏ lại. Qua sông rồi lẽ nào phải vác theo cả chiếc bè ?

Nay ông là người Phật tử  lại không theo hoàn cảnh cụ thể  giảng pháp lầm lạc , râu ông nọ cắm cầm bà kia … rơi vào chiếc bẫy của “tâm ý mình khi chưa đắc thánh quả” mà cố chấp dẫn đến lập luận lung tung không theo hoàn cảnh tạo điều kiện ngoại đạo có cơ hội phỉ báng lời Phật dạy là chống trái nhau …

(3)  Ông theo tâm ý mình tự ý gieo vần điệu làm biến thể lời kệ, dẫn đến khó hiểu. Cụ thể cũng với  lời kệ 273 Kinh Pháp cú phẩm Đạo:

273. Tám ngành, đường thù thắng,
Bốn câu, lý thù thắng.
Ly tham, pháp thù thắng,
Giữa các loài hai chân,
Pháp nhãn, ng
ười thù thắng.

(HT Thích Minh Châu)

Trong kệ này Đức Phật nói rằng con đường giải thoát cần viên dung Sự – Lý và Dụng, trong đó Sự là con đường 8 ngành, Lý là Tứ diệu đế và Dụng là pháp để thể nhập vào tiến trình đó.  Giữa các loài 2 chân (trời – thần – người – quỷ thần) thì căn bản trí của loài người cao nhất có thể tiếp cận được con đường giải thoát (Pháp nhãn – đạt đến sự hiều biết chân thật về vạn hữu)

Vì ông có thành kiến với những gì thuộc về văn hóa Trung Hoa, nên ông cố tình âm điệu hóa lời kệ , trước hết làm cho nó mất đi ý nghĩa chân thực, sau đó là gây hiều lầm do ông “y ngữ bất y nghĩa”. Trong trường hợp này ông phạm vào 2 lỗi của người Phật tử  : thành kiến bám chấp – lời hư dối:

Bát chánh đạo là đường độc lộ

Chân lý thì Tứ Đế cao siêu

Lìa tham ái quả nhiệm màu

Chứng nên pháp nhãn dẫn đầu hai chân”.

Chưa kể đến việc ông thành kiến với văn hóa Trung Hoa nhưng lại dụng thủ pháp của họ là “song thất lục bát ”, hơn nữa nơi yêu vận không ăn khớp “iêu” # “àu” là cưỡng vận, cũng như đời ông hay làm những việc tréo ngoe học thầy khi thầy, học tổ phản tổ. Thì ngay trong lời Phật dạy ông cũng xuyên tạc, bởi “độc lộ”, “cao siêu”, “nhiệm màu”  đều là những thứ thuộc về so sánh thế gian sao có thể mang so với “thù thắng” của pháp tánh?

Oái oăm nhất là sự tối nghĩa của câu cuối “Chứng nên pháp nhãn dẫn đầu hai chân”. Ông TNT ơi là ông TNT cái cách dẫn dắt người ta hiểu rằng “chứng được (nên) pháp nhãn luôn là 2 cái chân”??? Nó hoàn toàn khác với “Giữa các loài hai chân” ngữ và ý thật rõ ràng. Thật là phục ông sát đất. Ông nghĩ sao ???

Đã vậy, ông còn thừa thắng hàm hồ :

Chữ “pháp” theo nghĩa bao bao hàm mọi sự vật hiện tượng; “nhãn” là tâm nhìn về mọi sự vật hiện tượng theo nguyên lý duyên khởi, nghĩa là không thừa nhận Thượng đế là người sáng tạo, phủ định duy vật luận và duy tâm luận, là duy vật, duy tâm

Ông đã lập luận không hề có luận chứng luận cứ nào. (1) Đức Phật không nói có một Đấng Sáng Tạo, nhưng Ngài không hề phủ nhận duy vật , duy tâm mà  Ngài vẫn nói đến sự tồn tại khách quan nhân quả của chúng. Điều này ngay trong lần chuyển pháp luân đầu tiên Ngài đã minh thị , đó là sự tồn tại của Khổ (duy vật), nguyên nhân Khổ, cách đoạn Khổ (duy tâm) và hạnh phúc ra khỏi Khổ (trung đạo). Nếu ngài phủ nhận duy vật sao Ngài lại dùng bát sữa của cô gái Sujata? Nếu Ngài phủ nhận duy tâm sao Ngài hướng tư duy vào bên trong mà đạt Chánh giác. Giác ngộ chính là sự bình quân giữa 2 điều này.

(2) khi  Đức Phật nói về Pháp Nhãn thì hoàn toàn không theo như cách ông giải thích , mà đó là Trạch Pháp Nhãn –  Hay là cái thấy thực tại tối hậu của người tỉnh thức bình yên mà Đức Phật thuyết trong kinh Trái tim tuệ giác vô thượng:

Người Tỉnh Thức Bình Yên, do  không có sở đắc nên sống an lành trong Tuệ giác Vô thượng và thoát ly tất cả chướng ngại. Và rằng, vì không có những chướng ngại nên không có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn

Đó là điều chỉ có loài người mới có khả năng tiếp cận (loài trời hoan lạc khó thấy, loài thần tranh giành nên khó thấy , loài quỷ thần bất định, đói khát nên khó thấy, loài súc sinh ngu si nên không thấy).

“Nhãn” không phải là “Tâm” đâu  ông Thích Nhật Từ !. Vì cái Tâm cũng hư dối, khi giác ngộ  rồi Tâm cũng đâu có mà nhìn ?!  “Nhãn” chính là Trí tuệ nhận thức sự thật vạn hữu bằng đôi mắt giác tánh nguyên sơ:

277. Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh.

278. Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Đau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh.

279. Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh
.

(4) Trong lập luận của mình ông TNT quy nạp 8 chánh đạo thành 3 nhóm : Đạo đức – Thiền định – Trí tuệ là hoàn toàn chủ quan khinh suất. Về tính hợp lý của sự quy nạp anh cần phải hiểu rõ mối tương quan của các yếu tố cấu thành sau đó anh mới có đủ cơ sở để quy nạp chúng về những nhóm có cùng thuộc tính.

Ở đây tôi chưa nói về sự lý giải không có cơ sở, chủ quan và không phù hợp với chánh pháp của ông về các nhóm,  ví dụ “Hành vi đạo đức, gồm không giết người, bảo vệ hòa bình; không trộm cắp, tôn trọng sở hữu; không ngoại tình, chung thủy vợ chồng “  (Không giết người được hiểu thế nào? Người thực thi pháp luật tử hình tôi phạm thì sao?  Giết người để cứu nhiều người thì sao? Bảo vệ hòa bình thực chất được hiểu thế nào? Theo ý nghĩa tự do cho toàn thể hay là trong sự sắp đặt? … ),  thì sự phân chia này cũng hết sức khập khiễng. Nếu theo luận điểm Phật gia thì phải quy nạp về 3 nhóm : Giới – Định – Tuệ mới phù hợp.

Những người không am tường dễ  nhận lầm  màu sắc đạo đức trong đạo Phật. Tuy bề ngoài giống nhau nhưng hoàn toán khác bản chất. Sự thực hành đạo đức của thế tục với mưu cầu thuộc về ngũ dục, đảo điên trong bát phong. Thực hành Giới của đạo Phật lại thuộc về nguyên nhân của giải thoát . Đạo Phật không chủ trương là một tôn giáo nên không cần phải có những giáo điều về đạo đức. Đức Phật cũng không phải là nhà luân lý hay triết học, mà những gì Ngài thuyết giảng là Sự Thật được Ngài chứng ngộ.  Đó là một mô thức hoạt động tâm linh để đạt đến sự giải thoát . Vì vậy con đường Ngài chỉ dẫn chúng sinh đi không phải là con đường với những giáo điều về đạo đức, mà là đến với Sự Thật, siêu việt ra khỏi tốt – xấu – thiện – ác, vì thế không có nhóm Đạo Đức mà là Giới. Hơn nữa trong mỗi ngành đều hàm chứa lẫn nhau nên dù có phân chia cũng chỉ là một việc thừa thãi mà thôi.

Thứ đến, những điều ông TNT giải luận sau đây không thể chấp nhận được :

Ở đây Tứ Đế được xem là chân lý cao nhất và để kết thúc được sanh tử luân hồi thì bài kệ này khẳng định rõ là kết thúc được tham ái. Tham ái gồm 3 phương diện: Dục ái, hữu ái và vô hữu ái.

– Dục ái gồm có tình cảm (cấp nhẹ nhất), kế đến là tình yêu và nặng nhất là tình dục. Người tại gia chưa kết thúc được vì còn đời sống vợ chồng.

– Hữu ái là nhu cầu tiếp tục hiện hữu, nhu cầu có con, tái sinh.

– Vô hữu ái là đối lập lại với khuynh hướng này tức là trầm cảm, không muốn đầu thai làm người Việt Nam, không muốn đầu thai làm con người do buồn, muốn kết thúc sự sống của mình dưới nhiều hình thức tự tử khác nhau.”

Tôi không hiểu được ở vai trò và sắc phẩm một Thượng tọa lại có thể hời hợt và coi thường chúng sinh đến thế, và ngay đến từ vựng ông cũng khiếm khuyết nốt. Mọi hiện tượng sự vật đều mang tính 2 mặt.  “Dục ” sao lại giải thích bừa bãi như thế được?  “Dục” ở đây là chỉ mọi “ham muốn”. Dục cũng phân chia ô nhiễm và thanh tịnh. Dục pháp sinh (ham muốn đạt giác ngộ) khác với Dục tục sinh (tài – danh – sắc – thực – thùy). Liên Hoa Bộ Phật ở Phương Tây cũng tràn ngập ham muốn, nhưng ham muốn đó đã chuyển hóa thành ham muốn giác ngộ , nên gọi là Diệu Quan Sát Trí.

Hữu cũng tượng tự, là yêu thích sự sở hữu. Nó đâu chỉ là “nhu cầu có con, tái sinh” mà còn ở đó nhu cầu sở hữu trí tuệ giác ngộ. Vô hữu ái còn là sự nhàm chán đau khổ, nhàm chán vô thường …. để tiến nhập vào thánh đạo …

… Làm tư cách một người lập luận, lý giải cần phải mang theo trong tư tưởng sự trong sáng và ngay thẳng và trên hết là luận chứng luận cứ Phật gia. Trong toàn bộ những luân điểm trong chương này nói riêng và trong cả cuốn sách hoàn toàn là sự lèo lái để điều hướng người dọc theo tâm ý của ông mà rời xa quỹ đạo giác ngộ. Bằng một sự đánh tráo khái niệm (ngụy biện kết luận ẩu) ở trang 100 đánh dấu tâm thức lệch lạc lên đỉnh điểm:

Trên thực tế, có muốn đi nữa, các đức Phật, dù là Phật nào, cũng không thể làm điều đó. Ta nên nhớ, 48 lời nguyện không phải của đức Phật A Di Đà, mà là 48 lời nguyện của thầy Tỳ kheo Pháp Tạng, khi còn là một người phàm. Khi đó, trí tuệ của thầy có giới hạn, chỉ nhấn mạnh đến lòng từ bi. Do đó, có những điều phi hiện thực, phi nhân quả, nhưng nhiều Phật tử Tịnh độ cứ chạy theo điều này. Họ nghĩ rằng chỉ cần niệm 10 danh hiệu Phật, vì nếu không vãng sanh Tây Phương thì thầy Pháp Tạng sẽ không thành Phật. Thật ra, thầy Pháp Tạng đã thành Phật nhiều kiếp rồi

Trong nhân gian có chuyện rằng, có đứa trẻ nó nói có tài ném quả trứng qua mái nhà không vỡ. Không ai tin và bảo nó làm thử. Thế rồi nó ném quả trứng bay qua mái nhà, nhưng khi rơi xuống đất thì trứng vỡ. Nó giải thích với mọi người rằng nó đã nói đúng vì lúc quả trứng qua mái thì chưa vỡ, mọi người liền nghĩ là như thế.

Thực ra quá trình của việc ném trứng chỉ hoàn tất khi trứng chạm đất mà thôi, nghĩa là nó đã thất bại. Nhưng bởi nó biết dùng thủ đoạn ngôn ngữ, lợi dụng sự máy móc của tư duy và tâm lý đám đông để tạo cơ hội, và nó đã thành công việc đánh lừa  được mọi người trong việc “ném trứng qua mái nhà không vỡ”

Cũng như vậy, ở đây ông TNT dùng thủ đoạn “ngụy biện khái quát hóa vội vã” và “ngụy biện kết luận ẩu” để đánh lừa tư duy của mọi người. Nhưng ông đã lầm, vì ai cũng biết rằng không hề có bất kỳ ai “Một đời thành Phật” mà phải trải qua vô lượng kiếp tu tập. Tỷ kheo Pháp Tạng ngài đã như vậy và những dấu hiệu như  sinh nơi tôn quý, có thể trở thành Chuyển luân thánh vương,  hiển lộ bồ đề tâm, rời bỏ vinh hoa làm tỳ kheo, được Đức Phật Thế Tự Tại Vương  thọ ký đã hiển lộ điều đó.

Như vậy 48 đại nguyện của Ngài là  bồ đề tâm tích tập trải qua vô lượng kiếp, sao có thể nói là “là một người phàm. Khi đó, trí tuệ của thầy có giới hạn, chỉ nhấn mạnh đến lòng từ bi. Do đó, có những điều phi hiện thực, phi nhân quả” được ?

Ông TNT  đề cập đến nhân quả mà không hiểu có biết nhân quả thế nào không? Có biết rằng Bồ đề tâm (Từ Bi) là cốt lõi để thành Phật, nhân là 48 đại nguyện, quả là Phật toàn giác” không? Ngay đến người bình phàm tu thập thiện có thể tái sinh các cung trời huy hoàng, thì tại sao đại nguyện của các Ngài tích tập qua vô lượng kiếp không tạo tác được Phật độ của các Ngài ( Các trú xứ và Giải thoát – Kinh  trường A Hàm đã thuyết về những điều này)?

Tỳ kheo Pháp Tạng  với nhân quả đó mà đã thành Phật trước thời Phật Thích Ca thuyết pháp nghĩa là mọi chúng sinh thời Ngài chưa thành Phật đã được tiếp dẫn hết rồi. Do đó mà Ngài thành Phật.

Nếu tư duy như ông  TNT thì  500 Đại Nguyện Của Đức Phật Thích Ca Khi Còn Ở Nhân Địa (Trích Kinh Đại Thừa Đại Bi Phân Đà Lợi) cũng là phi hiện thực phi nhân quả hay sao. Hơn nữa sự giả trá của ông rất rõ ở đoạn viết  dạng “ngụy biện lý luận lươn chạch” :  “Họ nghĩ rằng chỉ cần niệm 10 danh hiệu Phật, vì nếu không vãng sanh Tây Phương thì thầy Pháp Tạng sẽ không thành Phật. Thật ra, thầy Pháp Tạng đã thành Phật nhiều kiếp rồi”.

Ở đây từ diễn trình tâm thức của ông, tôi kết luận ông là một kẻ ngu dốt, không có tàm quý, không xứng đáng là một Phật tử !

Theo đó, vì  thủ kiến của mình, những gì ông viết trong chương này với một nỗ lực dẫn dắt người đọc đến sự phỉ báng  kinh điển Đại Thừa  và phủ nhận những giá trị đạo pháp mà các vị Tổ Sư đã làm được vì lợi ích của chúng sinh.

Nhưng rồi kẻ đốt nhà sẽ chịu gió mưa và phong ba dìm nhấn. Điều này bản thân đối tượng đã và sẽ tự nhận ra trên con đường tối đã bày ra trước mặt

Tôi kết lại ở phản biện này bằng lời Đức Phật dạy trong kinh Pháp cú – phẩm Song yếu :

1. Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não b
ước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.

Cầu nguyện cho tất cả chúng sinh đều có đức khiêm tốn và một ý thức hổ thẹn !

Thanh Hóa ngày  30 tháng 12 năm 2017

OM MANI PADME HUM!

Mật Linh Nguyên

  1. Mật Tuệ Tri says:
    Mô Phật,

    Mật Tuệ Tri hoan hỷ với bài phản biện của đạo huynh Mật Linh Nguyên dành cho tên tội cấu sa môn Thích Nhật Từ. Ác tăng này đã và đang bôi tro trét trấu vào chốn thiền môn, chia rẽ tăng đoàn, não hại chúng sanh bằng thủ đoạn “đạo Phật Nguyên Chất”. Tuy nhiên huynh Mật Linh Nguyên đã trích dẫn những luận điểm quan trọng rằng đức Phật không chỉ thuyết pháp Tứ Diệu Đế mà còn thuyết pháp Thập Nhị Nhân Duyên, phơi bày lỗi sai học thuật nghiêm trọng của tên tà sư này.

    Suy cho cùng, chồn cáo có khoác áo sư tử cũng chẳng thể trở thành sư tử vương được, vì không thể hống tiếng hống của sư tử vương. Cũng vậy bọn trọc đầu giả mạo sa môn, phá hoại Phật pháp.

    Đệ cảm ơn huynh về bài viết lợi lạc và cầu nguyện cho huynh đời đạo song hành, hanh thông thế sự.

    Om Mani Padme Hum

  2. Mật Giu Se says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này rồi ạ .
    Om mani padme hum !
  3. Mật Thường Quang says:

    Kính bạch Thầy, con đã đọc bài này rồi ạ, con cảm tạ ơn Thầy.

    Đệ hoan hỷ khi đọc được bài viết lợi lạc này của huynh Mật Linh Nguyên.

    Nguyện cầu cho huynh thế sự hanh thông và sức khỏe.

    Nguyện cầu cho tất cả chúng sanh có được đức tính khiêm tốn và ý thức hổ thẹn.

    Om mani padme hum.

     

  4. Mô Phật,

    Pháp đệ hoan hỷ tán thán thiện hạnh viết bài chia sẽ của đạo huynh Mật Linh Nguyên.

    Bằng những luận chứng luận cứ đầy đủ trong bài, đạo huynh đã cho mọi người thấy được tính chủ quan kinh xuất của ông Thích Nhật Từ (TNT). Ông TNT quả là một loại “thuốc nổ hạng nặng”  và sự đầu tư công phu để có thể là “phá sản các tông phải khác để mình ông chiếm lĩnh ngôi vị tối cao trong ban bố giáo pháp Phật đà” bằng cách  lập lờ đánh tráo khái niệm, biến chân lý thành pháp môn để đi đến độc tôn pháp môn, tạo ra sự bất bình đẳng giữa tăng sĩ và cư sĩ qua “Đạo Phật nguyên chất”.

    Đệ lấy là tiếc thay cho ông TNT, đã được làm người, được gặp Phật pháp, có những vị thầy đáng kính nhận làm học trò. Nhưng thay vì tập trung tinh lực trí lực tu tập để có thể trả ơn Tam Bảo, ơn vị thầy, ơn chúng sanh, ơn đất nước thì ông TNT lại vướng vào những thất bại trầm trọng khi chỉ lo làm “hàng giả, hàng nhái” dẫn đến vô ơn chuyên nghiệp… kể cả khi nhận được “lời lành” từ sự tác pháp chiếu quang của vị Thầy Mật giáo, của Mật gia Song Nguyễn mà ông ấy vẫn bỏ qua để khăng khăng đi xuống cõi thấp. Cuối cùng thì “đồng nguyên chất” vẫn là “đồng nguyên chất”, Peta Biskhu thì bản chất chỉ là phá hoại Phật pháp dù hình tướng có là sa môn.

    Pháp đệ cám ơn huynh về bài pháp lợi lạc.

    Con thành tâm nguyện cầu Thầy Cô trụ thế lâu dài vì lợi lạc chúng sanh.

    Nguyện cầu đạo huynh Mật Linh Nguyên và gia đạo luôn vui tu và thanh thông thế sự.

    Nguyện cầu tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

  5. Mật Thái Xuyên says:

    Mô Phật

    Pháp đệ hoan hỷ đọc bài viết của huynh Mật Linh Nguyên. Hoan hỷ tán thán tinh thần tác pháp chiếu quang của huynh dành cho ông Thích Nhật Từ. Với những phân tích, lập luận, trích dẫn kinh điển chính xác  huynh đã cho chúng đệ và chúng sanh thấy được tấm áo cuối cùng của tâm kế mà ông Thích Nhật Từ bày  ra. Cảm ơn huynh với chia sẻ này. Cầu nguyện huynh Mật Linh Nguyên sức khỏe, thành tựu đời đạo song hành.

    Con cầu nguyện Thầy, Cô trụ thế lâu dài vì lợi lạc của chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thức tỉnh với trạng thái giác ngộ

    Om mani padme hum

     

  6. Mật Diệu Hằng says:
    Mô Phật!

    Mật Diệu Hằng hoan hỷ tán thán thiện hạnh của đạo hữu Mật Linh Nguyên đã tác pháp chiếu quang cho tiến sĩ Thích Nhật Từ trong bài viết này với đầy đủ luận chứng, luận cứ để thấy rõ bộ mặt thật của kẻ ngụy biện sau hình tướng của một tỳ kheo, đầu tròn áo vuông.

    Trong chương IV này, dưới sự phân tích đầy đủ luận cứ, luận chứng Phật đà của đạo hữu Mật Linh Nguyên, Mật Diệu Hằng thấy rõ rằng mặc dù Thích Nhật Từ được xem là xứ giả của Như Lai nhưng ông ta không hướng đến mục tiêu giải thoát mà hướng về lục đạo luân hồi, có lẽ do niệm tưởng ương ngạnh và niệm tưởng bất chính trong dòng tâm thức của ông ấy còn quá mạnh nên mới dẫn lối ông ấy về luân hồi lục đạo của cõi thấp.

    Thứ nhất, ông Thích Nhật Từ phủ nhận thành quả tu tập của các Tổ, thánh giả và cho rằng các Tổ đi sai đường nên ông ấy đưa ra Đạo Phật Nguyên Chất. Thậm chí ông ấy còn hủy báng đức Phật A Mi Đà và các đại nguyện của ngài để giúp chúng sanh thực hành pháp dễ dàng để lìa mê về giác. Mật Diệu Hằng đọc lập luận tự ý lập ngôn, tiền hậu bất nhất của ông ấy mà không khỏi ngao ngán.

    Với những lập luận đầy đủ luận cứ, luận chứng của đạo hữu Mật Linh Nguyên đã cho thấy Thích Nhật Từ không hiểu gì nhân quả, gieo nhân bồ đề tất sẽ đạt được quả vị Phật. Hơn nữa, ngay trong câu viết của Thích Nhật Từ càng thể hiện sự vô tàm bất quý, ngụy quân tử, xạo biện một cách trắng trợn. Đoạn đầu, để phủ nhận công dụng của 48 đại nguyện của đức Phật A Mi Đà, Thích Nhật Từ lập luận là khi đó thầy Pháp Tạng còn là một người phàm, trí tuệ có giới hạn. Nhưng ngay những câu sau, để phủ nhận công năng vi diệu của pháp môn niệm Phật giúp hành giả Tịnh độ tông vãng sinh Tây Phương Cực Lạc, thì Thích Nhật Từ liền “trở mặt” rằng: “Họ nghĩ rằng chỉ cần niệm 10 danh hiệu Phật, vì nếu không vãng sanh Tây Phương thì thầy Pháp Tạng sẽ không thành Phật. Thật ra, thầy Pháp Tạng đã thành Phật nhiều kiếp rồi.” Đúng là quỷ kế đa đoan. Nếu thầy Pháp Tạng thành Phật nhiều kiếp rồi thì tại sao ông dám nói rằng thầy Pháp Tạng khi phát 48 đại nguyện vẫn còn phàm phu và trí tuệ có giới hạn? Mục đích của ông là hủy báng chánh pháp, hủy báng chư Phật, cản trở chúng sanh thực hành pháp để đạt đến sự toàn giác.

    Thứ hai, Giới – Định – Tuệ của nhà Phật giúp chúng sanh thực hành để đạt giải thoát tối thượng thì ông tự chế “đạo đức – định – tuệ” theo lối thế tục. Rõ ràng ông muốn ở mãi trong luân hồi với quỷ kế đa đoan của ông, cản trở người tu tập, vì vậy ông tự chế ra “đạo Phật nguyên chất” để kéo chúng sanh vào bể khổ luân hồi.

    Thứ ba, ông lúc nào cũng phủ nhận khả năng giác ngộ của cư sĩ, ông dùng mọi thủ đoạn để cư sĩ cúng dường, lao tác, phục vụ tăng sĩ như ông. Thực ra, vì thanh danh lợi dưỡng, vì bám chấp trần tục nên ông phủ nhận mục đích giải thoát tối thượng của đức Thế Tôn, ông xảo biện để đưa chúng sanh vào tam đồ ác khổ. Cũng dễ hiểu thôi, với những dòng sơ yếu lí lịch của ông ấy thì rõ rằng ông ấy không tu tập, không thực hành pháp mà vẫn vui đắm trong những hoạt động thế sự.

    Chỉ có vị Thầy từ bi, trí tuệ, vì bồ đề tâm với tất cả chúng sanh nến mới sẳn sàng đối luận, tác pháp chiếu quang cho ông, nhằm giúp chúng sanh hiểu bản chất của ông để không bị lầm vào tà kiến. Và đạo hữu Mật Linh Nguyên đã noi theo gương Thầy viết bài viết lợi lạc này.

    Con cầu nguyện Thầy Cô trụ thế lâu dài để ngọn đuốc chánh pháp của đức Thế Tôn được lan tỏa khắp muôn nơi, đánh tan những góc tối tà kiến, vô minh của những kẻ tà sư, tà lực, tà quyền.

    Cầu nguyện Mật Linh Nguyên viên thành mọi ước nguyện chính đáng, thong dong trên đạo lộ giải thoát.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

  7. Trần Văn Chức says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc xong bài này rồi ạ. Con cảm ơn Thầy.

  8. Mật Tường Vân says:
    Kính bạch Thầy!

    Con  hoan hỷ với thiện hạnh của huynh Mật Linh Nguyên khi viết bài chỉ rõ những điểm sai  lầm của ông Thích Nhật Từ trong những “chế tác”  của ông ấy. Các luận chứng, luận cứ đã làm bộ mặt “Thích tử” của ông ta rơi xuống để hiện nguyên hình bộ mặt của kẻ “dùng đạo tạo đời”.

    Con để ý dạo gần đây hình như đang có phòng trào “Nguyên chất” trong việc sử dụng ngôn ngữ “thuần Việt”, có lẽ họ không hiểu được bản chất thực sự của ngôn ngữ học. Không tiện phân tích kỹ điều này, song với việc người ta cố khuôn ép ngữ nghĩa đã tạo ra những tình huống “khó đỡ” như “Phật giáo nguyên thủy” thì biến thành “Phật giáo nguyên chất”, “Giới” thì biến thành “Đạo đức”… Tính lịch sử của ngôn ngữ là thứ vừa tiếp nhận vừa sáng tạo nhưng với sự hẹp hòi của Chủ nghĩa dân tộc cực hữu, những người này đã và đang làm cho giáo lý nhà Phật khi đến với chúng sanh đã trở nên biến dạng. Điều này vô tình hay cố ý  đã ngăn trở chúng sanh không tìm thấy được con đường ánh sáng khi mà họ đang tự biến mình thành những kẻ độc tài tâm linh.

    Chánh pháp Phật đà là cây cầu bắc qua những phân biệt, là tiếng chuông Kim cương phá chấp… mong thay những người như ông Thích Nhật Từ còn nhìn thấy lối quay về.

    Con nguyện cầu Thầy Cô an tịnh và trường thọ

    Nguyện cầu cho tất cả chúng sanh thức tỉnh với trạng thái giác ngộ

    Om mani Padme Hum

  9. Thưa Thầy!

    Con đã đọc xong bài này rồi ah. Mật thúy rất hoan hỉ với thiện hạnh tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Linh Nguyên dành cho ông Thích Nhựt Từ Mật thúy cũng không ngờ rằng ông Thích Nhựt Từ  là một Thượng Tọa mà giảng pháp sai với qủy đạo chánh pháp như vậy  Mật thúy rất hoan hỉ với bài kệ 19

    Người tri thủy dẫn nước ,

    Kẻ làm nên nắn tên,

    Người thợ mộc uốn gô ,

    Bậc tự điều , điều thân.

    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của thầy cô vì lợi lạc của chúng sanh Om ah hum

  10. Nguyễn Hà Liên says:

    Mô Phật!

    Đệ hoan hỷ với bài viết tác pháp chiếu quang của huynh Mật Linh Nguyên dành cho ông Thích Nhật Từ. Đệ cảm ơn huynh đã viết bài.

    Con nguyện cầu Thầy Cô sức khỏe và trường thọ vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.

    Đệ cầu nguyện huynh Mật Linh Nguyên hanh thông thế sự và thong dong trên đạo lộ giải thoát.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

     

  11. Kính Bạch Thầy.

    Con đã đọc xong bài này rồi ạ.

    Pháp đệ hoan hỷ tán thán thiện hạnh của đạo huynh Mật Linh Nguyên đã chia sẻ bài viết ngang qua sự tác pháp chiếu quang cho Tiến sĩ Thích Nhật Từ về việc phỉ báng chánh pháp, thuyết giảng tà kiến gây ảnh hưởng đến thân căn huệ mạng của chúng sanh.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì hạnh phúc của chúng sanh.

    Cầu mong cho tất cả chúng sanh thức tĩnh với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

  12. ­Mô Phật!

    Mật Ngã hoan hỷ với bài đối luận của Mật Linh Nguyên cho Tiến sĩ Thích Nhật Từ.

    Bài viết của Mật Linh Nguyên nói riêng và nhiều bài đối luận khác trên chanhtuduy.com nói chung, mà Mật Ngã cảm nhận điểm nổi trội khác nhau giữa những vị Thầy chân chánh và những tà sư là:

    _ Những vị Thầy chân chánh luôn nổ lực truyền “cảm hứng” cho chúng sanh để họ được tu học, thực hành pháp mà thoát khỏi vô minh tà kiến, thoát khỏi luân hồi. Các Ngài nói và làm theo lời Phật dạy “y giáo phụng hành”.

    _ Những tà sư thì cũng luôn nổ lực mà nổ lưc của họ có thể nói là “không chừa tội lỗi” để ngắt đi nguồn “cảm hứng” muốn được tu học, thực hành pháp, giải thoát của chúng sanh làm chúng sanh càng muốn tìm hiểu về đạo Phật để tu học thì càng thấy khó khăn, chán nản, mặc cảm và tào lao… Họ toàn tự nói và làm theo tâm ý của mình “y tâm ý của mình mà tiến hành” nên toàn sai lời Phật dạy.

    Cầu nguyện cho những tà sư “con sâu” trong cửa thiền sẽ sớm “rơi rụng” như lá mùa thu để họ không còn cơ hội hại đến thân căn huệ mạng của chúng sanh. Om Ah Hum!

  13. mật nguyên đán (đoàn thị hải) says:
    kính bạch thầy !

    con đã đọc xong bài viết đối luận với tiến sĩ Thích Nhật Từ của đạo huynh mật Linh Nguyên rồi ạ

    con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi ích của chúng sinh

    cầu nguyện cho gia đình đạo huynh Hạnh phúc gia đình thông hanh thế sự .

    cầu nguyện cho chúng sinh thành tựu hạnh phúc phật tánh .

    om mani padme hùm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status