Sep 8, 2017

Posted by in Giáo điển | 45 Comments

NGỘ NHẬN VỀ KINH VU LAN BỒN

Nhân những bài viết liên quan đến ông Nguyễn Minh Tiến thời gian gần đây có đề cập tới những bài viết đối luận của tác giả Đáo Bỉ Ngạn với ông Nguyễn Minh Tiến trong loạt bài Kinh vu lan bồn thực hay giả trước đây (từ năm 2012), nay admin quyết định đăng tải lại nội dung các bài đối luận này theo trình tự để bạn đọc thuận tiện theo dõi:

1. Kinh vu lan bồn thực hay giả:
http://chanhtuduy.com/kinh-vu-lan-bon-thuc-hay-gia/

Kinh vu lan bồn thực hay giả?

Vào mùa tháng Bảy (âm lịch) ở chùa nào cũng khai hội Vu Lan báo hiếu. Nhưng tại sao chỉ nhắc đến Mẹ mà không báo hiếu Cha? Mà thôi, ai cũng được vì ai cũng là đấng sinh thành như người ta thường nói vậy! Mà tại sao chỉ có báo hiếu vào mùa này nhỉ? Còn mùa khác thì không báo hiếu sao? Mà tại sao lại phải vào tháng Bảy âm lịch mới có Vu lan thắng hội?

Thực sự ra ngày 14 tháng Bảy âm lịch hằng năm là ngày cúng giỗ tổ tiên người Tàu. Tại sao có sự trùng hợp với lễ Vu lan bồn một cách kỳ lạ như thế? Có ai suy nghĩ về điều này không? Tôi cũng như quý vị chưa từng nghĩ như vậy cho đến khi đọc được khai thị của hoà thượng Tuyên Hoá, vị thánh tăng người Trung Quốc, người sáng lập Vạn Phật Thánh Thành tại nước Mỹ vào thập niên 80 của thế kỷ 20.

Theo pháp ngữ của Ngài thì người Tàu ngụy tạo ra kinh “Vu lan bồn” nhằm củng cố sự chuyên chế của giường cột phong kiến, vốn lấy Trung Hiếu làm đầu, dầu là ngu trung và ngu hiếu! Ngoài ra còn nhằm vào những mục đích khác nữa! Thật choáng váng cho tôi lúc đọc đến chỗ này, nhưng niềm sùng kính của tôi đối với Ngài là tuyệt đối vào thời điểm đó, nên tôi hoàn toàn tin tưởng đây là sự thật.
Giờ đây bình tâm mà xét lại quả nhiên kinh Vu lan bồn lộ ra nhiều sơ hở, trái với chánh tư duy của nhà Phật. Theo kinh điển đạo Phật, một người đắc thánh quả thì 9 đời tổ tiên dòng họ được siêu thăng. Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi quy y đầu Phật, chỉ 18 ngày sau là đắc A la hán, thì tại sao mẹ Ngài vẫn còn ở địa ngục?
Trong kinh Vu lan bồn, sau khi trở về từ địa ngục thăm mẹ, tôn giả Mục Kiền Liên được Đức Phật chỉ dẫn cách lập Vu lan bồn.  Trong kinh này có ghi là đàn tràng này được thiết lập với sự cúng dường phẩm vật (còn gọi là cúng trai tăng), và nhờ đến 500 vị thánh tăng A la hán cùng chú nguyện vào, thì mẹ Ngài mới siêu thăng. Vậy thì tôn giả chúng ta bấy giờ lấy đâu ra nhiều phẩm vật cúng dường và mời đâu ra dễ dàng 500 vị A la hán cùng một lúc nhỉ? Được biết, sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất chỉ có 499 vị, về sau có ngài A nan bổ sung mới đủ 500 vị. Như thế, thời điểm tôn giả Mục Kiền Liên “cứu mẹ”  làm sao có được nhiều thánh tăng A la hán vậy?
Nếu tôn giả Mục Kiền Liên làm như vậy, thì các tôn giả khác cũng có mẹ hoặc cha hoặc tứ thân phụ mẫu bị đoạ địa ngục. Vậy thì tính sao đây? Lẽ nào làm được cho tôn giả Mục Kiền Liên mà vị khác lại không? Đây là sự thiếu công minh, chắc chắn không phải là chỉ dụ của Phật!
Trong kinh “Địa tạng bổn nguyện” một người nữ Bà la môn, vì thương mẹ mình bị mất mà không biết thác sanh vào chốn nào, niệm tôn hiệu của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai chỉ một ngày một đêm thì người mẹ ấy từ địa ngục thác sanh vào cõi trời. Suy ra, 500 vị thánh tăng A la hán cùng chú nguyện chỉ bằng một người nữ Bà la môn? Phải chăng chỗ này lộ ra sự vô lý về đối tượng “cầu siêu” và “đạo lực” giữa một người phụ nữ với hàng trăm vị thánh tăng?
Do những sơ hở này, chúng ta hiểu thêm về xác quyết của hoà thượng Tuyên Hoá. Đây không phải lần đầu người Tàu nguỵ tạo kinh điển. Hoà thượng Hư Vân cho biết, thời Võ Tắc Thiên, kinh “Đại Vân” được “sáng tác” nhằm phục vụ cho việc soán ngôi vua của bà ấy!
Đối với người Tàu, cái gì cũng có thể nguỵ tạo, bịa đặt, vẽ rắn thêm chân. Các vị xem “Tây du ký” là truyện chương hồi của Ngô Thừa Ân, khác xa với chính sử về hình ảnh của Pháp sư Trần Huyền Trang còn gọi là Đường Tam Tạng. Xem truyện “Thuỷ Hử”, lại càng thấy tài hư cấu bịa đặt của người Tàu đối với chính sử mà Thi Nại Am đã phóng tác. Mới đây nhất, trong một bài viết đăng trên báo “Hôn nhân và Pháp luật”, tác giả Phong Nguyệt cho biết, hậu bối của dòng họ Võ, đòi kiện con cháu nhà văn Thi Nại Am vì đã bôi xấu tên tuổi của Võ Đại Lang, vốn thời đó là một vị quan thanh liêm, chứ không phải là chàng gù bán bánh tiêu trong truyện “Thuỷ Hử”.
Dẫn chứng nóng hổi nhất, thời sự nhất là người Tàu cho rằng đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc, trong khi những tài liệu lịch sử đều không có. Còn đường “lưỡi bò” mà Trung Quốc tự vẽ ra, chỉ mới đây thôi, khẳng định vùng biển Đông là của Trung Quốc. Cả thế giới lên án, Việt Nam đã bác bỏ luận điểm trên bằng những chứng cứ lịch sử đầy thuyết phục. Trung Quốc không dám đưa vấn đề này ra Toà án Quốc tế.
Trở lại kinh “Vu lan bồn”, chúng ta nên xét lại để mà minh bạch với đồ chúng, để nguỵ-chân, thực giả đưa ra ánh sáng Phật pháp chiếu soi. Đừng vì những gì gọi là truyền thống hay là những lợi ích gì đó mà không dám lên tiếng!
ĐÁO BỈ NGẠN

 

2. Phản hồi của ông Nguyễn Minh Tiến: Phật tử nên đọc kinh điển như thế nào? (http://rongmotamhon.net/xem-sach_Nguoi-Phat-tu-nen-doc-Kinh-dien-nhu-the-nao_cmklsgqp_show.html)

hoặc: Người Phật tử nên đọc Kinh điển như thế nào

3. Đối luận của tác giả Đáo Bỉ Ngạn: http://chanhtuduy.com/ngo-nhan/

KỲ 1: NGỘ NHẬN: TỪ ĐỜI ĐẾN ĐẠO

             Trong thực tế cuộc sống có nhiều sự ngộ nhận khác nhau. Một người vợ giỏi bán buôn, kiếm ra nhiều tiền, hết sức được lòng bên chồng. Ai cũng tưởng chắc anh chồng may mắn quá! Chính người chồng mới thấm thía nỗi nhục của kẻ được coi là “ở nhà phụ vợ”. Người ngoài ngộ nhận điều này, thậm chí không ít đàn ông mong có được một người vợ như thế. Tuy nhiên, họ không hiểu “ở trong chăn mới biết chăn có rận”.

              Một người chồng trí thức là một học giả mà kiến thức của anh ta được mọi người ngưỡng mộ. Những lời nói của anh ta đưa ra những ái ngữ thiện lành, quan hệ cư xử đúng mực trong giao tiếp xã hội. Song, chỉ có người vợ của anh ta mới âm thầm chịu đựng vì tính sĩ diện, háo danh và “vác tù và hàng tổng” của chồng mình. Người ta đã ngộ nhận cặp vợ chồng vì không thấy thực chất của hôn nhân căn bản nhất là hạnh phúc.

             Một chị thường đến chùa tụng kinh mỗi tối, đều đặn, lại trường chay đã lâu. Ai cũng tưởng chị ấy an lạc, đời sống hạnh phúc, con cái ngoan lành cho đến khi tình cờ nhiều đạo hữu tìm tới nhà mời đi làm từ thiện, nghe vọng ra những lời chửi rủa của chị đối với ông chồng. Hàng xóm kể rằng, ông ấy chịu không nỗi bỏ nhà đi tu ở một chùa nọ. Sau đó, chịu không nỗi phải quay về nhà. Người con trai đầu không hợp tánh với người mẹ, thường sang nhà bên tâm sự, định thuê nhà khác ở tránh khỏi nghịch cảnh này.

              Một chị khác nhờ phước báu kiếp trước, nay là chủ của gần 50 phòng cho thuê tại thành phố Vũng Tàu. Chồng chết, chị buồn lắm liền vào chùa kia tụng kinh mỗi tối. Những người ở trọ cho hay cứ mỗi 2 tháng chị tăng giá phòng 1 lần, bất chấp hợp đồng đã ký 6 tháng. Mỗi lần như vậy chị viện đủ lý do, vẽ vời ra đủ thứ chuyện để ngụy biện cho hành vi “chèn ép” của mình.

              Những trường hợp ngộ nhận mà tôi nêu trên đều có địa chỉ cụ thể, tai nghe mắt thấy rõ ràng. Tuy nhiên, những ngộ nhận này chỉ là trên bình diện thế gian để lại hậu quả, chỉ một đời này. Song, nếu ngộ nhận về kinh điển nhà Phật, theo đó mà làm, sẽ không những không được gì mà còn hại cho thân căn huệ mạng cả ngàn kiếp sau. Điều này đã được Phật khuyến cáo trong nhiều kinh, trong đó có Đại Bát Niết Bàn, Thủ Lăng Nghiêm…

              Tướng trạng ngộ nhận về phương diện này là khi người ta chấp nhặt vào cái bề ngoài quá sức hoành tráng mà quên đi bản chất của sự vật, hiện tượng. Một kinh được đưa vào ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH liền cho đó là chánh pháp. Hằng ngàn năm như thế mà làm theo, chưa bao giờ tự hỏi kinh này thực sự là kim khẩu của Phật hay không? Người lựa chọn đưa vào là thánh chăng? Do thái độ “nô lệ tâm linh”, hoặc giả như bị truyền thống vô minh đã lâu làm bóng cao cây cả, cứ ở chùa làm sao mình làm vậy; cứ vị sư bảo gì thì cứ nghe theo, nên “y giáo phụng hành”.

                 Do biết trước thế nào rồi cũng bị tà ma ngoại đạo đội lốt tà sư, luồn vào Tăng đoàn, miệng giảng kinh Phật mà làm chuyện tà vạy, cho nên Phật dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Tánh Như Lai rằng nếu người Phật tử biết vị sư nào phá giới thì không nên lễ bái đừng nói chi đến việc cúng dường, dầu là họ mặc áo cà sa. Vì sao vậy? Bởi đạo Phật luôn trọng thực tế cuộc sống, nhất là Đại thừa, Mật thừa, cho nên người đã học Phật, tu Phật thì phải có đời sống tương ưng theo lời dạy của Ngài. Lẽ nào một vị sư dâm ô với phụ nữ, lừa gạt hàng tỷ đồng của thí chủ, nếu ta biết được rồi bởi bằng chứng hẳn hoi, há gì lại nghe lời giảng của vị sư ấy?

Giả sử có một học giả Phật giáo nổi tiếng, dịch được nhiều bộ kinh, viết được nhiều quyển sách, mà người ấy tiếp tay cho công ty sách lừa gạt tác quyền một cách tinh ma, ngâm ghim bản thảo nhằm gợi ý kẻ khác biếu xén lễ vật, tịnh tài, thì chúng ta có tin họ là con Phật hay con của Ma? Nên biết, Phật với Ma chỉ khác nhau một điều duy nhất: Ma là tà có nghĩa là nói viết một đường, hành động một nẻo; Phật là chánh có nghĩa là tri hành hợp nhất. Thấy biết của Phật là chánh tri, nhằm ứng dụng vào đạo nghiệp Bồ đề tâm và Giải thoát. Thấy biết của Ma là tà tri, nhằm đưa ra thủ đoạn trục lợi, vị kỹ dù biết hành vi đó trái với chánh lý.

              Đây là những trường hợp nêu trên hoàn toàn có chứng cứ sống động. Nhân đó, tôi là Đáo Bỉ Ngạn mới có những dòng chữ này gửi phản hồi đến ông Nguyễn Minh Tiến về bài viết: “NGƯỜI PHẬT TỬ NÊN ĐỌC KINH ĐIỂN NHƯ THẾ NÀO”.

              Kính thưa Ông Nguyễn Minh Tiến!

       Thực sự đã có một thời tôi ngưỡng mộ kiến thức học giả của Ông, quả là dưới bầu trời Phật học khó có ai được nhiều khả năng diễn đạt như Ông. Tuy vậy, dù tôn trọng Ông, nhưng tôi không thể không phản hồi khi mà ông Tân Thanh nguyên Biên tập viên của Văn hóa Phật giáo trực tuyến đã gọi điện thông báo, và yêu cầu tôi lên tiếng. Song, qua email mà Tân Thanh gửi đến, tôi thực sự bàng hoàng vì sự ngộ nhận của tôi về Ông, như bao nhiêu bạn đọc khác. Những cụm từ về Ông như “nịnh trên nạt dưới”, “tặng sầu riêng cho vợ sếp”, “cày chữ kiếm cơm”, tôi cố gắng không tin để không mất đi hình ảnh một học giả uyên thâm trong tâm trí tôi.

         Thưa Ông! Cũng trong email này ông viết những câu ngút ngàn hào khí, cũng đầy sự khiêm tốn vô song:  “Bản thân tôi không dám trèo cao, tôi không phải học giả hay hành giả gì cả, chỉ là một cư sĩ cố gắng làm theo lời dạy của Phật được chừng nào hay chừng ấy, và vì thế tôi chỉ suy nghĩ theo một chiều hướng rất đơn giản là: những gì liên quan đến sai sót trong bài viết của tôi, tôi xin rửa tai kính cẩn lắng nghe, bất kể người nói đúng hay sai;”(Hết trích).

          Giờ đây, tôi cảm ơn ông đã dành thời gian đầu tư công phu cho bài phản hồi của mình để rồi gửi đến những ý kiến phản hồi về bài viết của tôi.

        Thưa Ông! Xưa kia Tuân Tử có dạy “Ai chê đúng là Thầy ta, ai khen đúng là bạn ta.”, tôi cảm ơn ông nhưng tôi cần phải xét lại ông có là đối tượng nào trong sự xác định này.

KỲ 2: NGỘ NHẬN: TỪ Ý KIẾN BẠN ĐỌC (COMMENT) THÀNH BÀI VIẾT?!

I/ ĐÔI ĐIỀU PHẢN BIỆN VỀ LUẬN KIẾN CỦA ÔNG

       1/ Tựa đề mang tính chủ quan:

              Thưa ông, tựa đề bài viết của ông là “NGƯỜI PHẬT TỬ NÊN ĐỌC KINH ĐIỂN NHƯ THẾ NÀO?”.

              Nếu theo câu viết vừa nêu trên của Ông là “Tôi không phải là học giả hay hành giả gì cả…” thì ông cày ra gần 10.000 từ để khuyên dạy người khác làm chi? Bởi lẽ, nếu là người bình thường như ông đã nói thì đăng đàn làm gì, có lẽ nên ở nhà phụ việc cho vợ, dạy dỗ con cái là tốt hơn. Điều này chứng tỏ hành vi “nói và làm” trái ngược nhau. Do đó, tôi cũng không nên luận giải với đối tượng “khiêm tốn” như vậy. Song, vì bạn đọc đang chờ, vì trách nhiệm của người viết comment bài “Thực chất mùa Vu lan” do Tân Thanh viết, mà ông tự cho là bài viết: “Kinh Vu lan bồn thực hay giả” tôi đành phải phản hồi.

              Thưa ông! Giả sử ông là học giả hoặc hành giả hoặc cả hai cũng không thể viết mang tính chất chủ quan như trên. Trong kinh “Tứ thập nhị chương” ở chương 28 Đức Phật có khuyến cáo: “Chớ tin nơi tâm ý của mình, tâm ý không thể tin cậy được…Đắc quả A la hán rồi mới có thể tin cậy vào tâm ý của mình”! Do đó, lập luận của ông, xin lỗi, cho tôi nhận xét là khinh suất, thiếu cẩn trọng, tỏ thái độ ngạo mạn. Đọc tựa đề ông đặt ra, nếu không có ghi Nguyễn Minh Tiến, mọi người ngỡ tác giả là bậc Pháp chủ đạo Phật, chí ít cũng là luận chủ ở đây! Mà cũng không sai đâu, một học giả nổi tiếng, từng dịch nhiều kinh điển, thậm chí kinh “Đại bát Niết bàn” do Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã dịch rồi, lưu hành hơn 60 năm rồi, ông cũng dịch lại, rồi đem đến tận chùa Vạn Đức tặng Hòa thượng, nên ông tự mãn là đúng! Vì vậy mà ông mới dám bác bỏ luận kiến của hòa thượng Tuyên Hóa mà tôi đã đưa ra trong phần đầu của comment mình!

       2/  Biến không thành có

              Thưa Ông, như tôi vừa viết, ông đã tranh luận mà chủ quan về đối tượng. Cái mà ông cho “bài viết” của tác giả Đáo Bỉ Ngạn thực ra nguyên bản của nó là một COMMENT về bài viết “THỰC CHẤT MÙA VU LAN”. Song, ông không nghiên tầm tường tận cho nên ông sơ suất trong lập luận ở Mục 1. Bây giờ tôi trích comment cho ông xem rõ nhé!

(VHPGO) Nhận thấy comment của người viết là Đáo Bỉ Ngạn liên quan đến thực chất về giáo điển Phật đà, BBT của Văn hoá Phật giáo online quyết định đăng thành bài để nhiều bạn đọc, học giả, cư sĩ, tăng ni nhằm rộng đường công luận về vấn đề được nêu ra là: “KINH VU LAN BỒN THỰC HAY GIẢ?”. (Hết trích)

              Lỗi sai từ chỗ này, tức là chỗ mà ông tự biến comment của tôi thành bài viết cho nên ông phê bình là sai. Một comment thường có tính thời sự của nó, liên quan đến thực tế diễn biến, người viết theo đó mà bình luận, trong Nhân minh học gọi là “hiện lượng biện giải” (xin lỗi, chắc người bình thường thì không nghiên cứu lĩnh vực này). Do vậy, văn phong của comment chỉ phản ánh ý nghĩa thực tại, mục đích hiện hữu của người viết, hầu hết là tập trung vào ý của tác giả, không nên đưa nó vào dạng thể loại học thuật để rồi ông “hô biến” nó thành bài mà mổ xẻ, chỉ trích, lên tiếng “bề trên” dạy khuyên người khác.

 Nguyên tắc luận giải khi đưa ra một luận đề trước khi kiến giải thì phải quay về nguồn gốc xuất xứ mà ông lại không làm điều đó. Do đó, lập luận của ông sơ xuất từ ban đầu, thì những phần sau sẽ không thể tồn tại vì ông đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Sau đây là minh chứng của tôi:

              Vì vậy, trong Mục 1, ông hồ đồ cho rằng câu của tôi viết: “Nhưng tại sao chỉ nhắc đến Mẹ mà không báo hiếu Cha?” là sai vì kinh Vu Bồn nhắc 19 lần đến từ phụ mẫu. Xin ông vui lòng đọc kỹ bài viết Tân Thanh mà vì đó mà tôi có câu trên.

THỰC CHẤT MÙA VU LAN

(VHPGO) Mùa vu lan tháng bảy lại đến trong những cơn mưa ngâu u ám. Trên khắp mọi miền đất nước, những ngôi chùa đua nhau khoe những gam màu trong bức tranh toàn cảnh của mùa tháng bảy này. Mỗi chùa mỗi kiểu, chùa lớn thì làm theo kiểu chùa lớn, chùa nhỏ thì làm theo kiểu chùa nhỏ. Một không khí nô nức tranh thủ làm phước, báo hiếu… nhưng tất cả có một điểm chung: hình ảnh người mẹ là mô típ chủ đạo trong mùa tháng bảy này.

Bài và ảnh: Tân Thanh

                 Do vậy, tôi viết là đúng, ông suy luận sai vì không tra cứu tận gốc. Và “cái chết” của ông ở đây là “việt vị”.

KỲ 3: NGỘ NHẬN: ĐI MUA NHÀ MÀ CHỌN CỬA SỔ            

                  Tuy nhiên, một học giả như ông không thể sơ xuất được nhưng ông muốn “hô biến” như vậy để có dịp khoe rằng ông đọc kỹ, đọc nhiều; mới có dịp ông tung tẩy ngòi bút của ông, để mọi người thấy được kiến thức bác học của mình.

                 Bản ngã tự kiêu của ông ở chỗ nào thể hiện? Thứ nhất là ông quá tự tin đến mức chủ quan vào “kiến thức” tầm chương trích cú của mình, bỏ qua tính thực tế hiện hữu mà nhận xét: “ tôi nhận ra khá nhiều lệch lạc từ 2 phía, dù là tán thành hay không tán thành”. Ôi chao! Ông đã khiêm tốn viết trong email gửi ông Tân Thanh là ông không phải “học giả hay hành giả” mà tại sao phán xét người ta “sai lệch? Hãy tưởng tượng những tác giả comment ấy sẽ như thế nào? Ông có biết họ là ai không, biết đâu họ là những cử nhân đại học chính quy, chứ không phải đại học tại chức như ông đâu ông ạ! Qua luận kiến của họ tôi cảm nhận họ hiểu biết nhiều lắm, vì khi viết họ có đưa ra luận chứng từ kinh điển. Vậy thì tại sao ông phán là “lệch lạc”, tức là ông bài bác luôn luận điển? Tại sao không trích dẫn comment của ai, vì sao mà “lệch lạc”? Vậy, mà đối với tôi, đối tượng mà ông tranh luận, lại đòi tôi phải trích chương, dòng, trang, sách nào? Từ đây, bạn đọc có thể hiểu về luận bút của Nguyễn Minh Tiến.

              Tôi được Tân Thanh, nguyên là Biên tập viên trong VanhoaPhatgiao.com cho biết, liền sau khi bài ông viết, có 3 comment phản hồi về tính ngạo mạn của ông, trong đó 2 comment được đăng lên vào buổi chiều 17:56’ ngày 8.11.2012 và cái kia 19:11’ ngày 8.11.201, sau đó khoảng 21.00  ngày 8.11.2012 thì bị xóa đi. Tại sao như vậy? Hóa ra mới biết, ông Nguyễn Minh Tiến vừa có chức danh trong Ban biên tập trực tuyến vanhoaphatgiao.com, cách đó 1 ngày, nên khi thấy những comment bất lợi về mình thì liền không cho đăng, hoặc đã đăng mà ảnh hưởng đến danh dự của mình thì liền bỏ xuống.

               Thưa ông! Có nói rằng “cây ngay không sợ chết đứng”, và Phật dạy trong “Đại thừa Luận bảo vương Tam muội”: “Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hèn nhát, và đối oán chưa xả”, vậy thì vì sao ông nỡ làm như vậy, trong khi vanhoaphatgiao.com.vn do ông Huệ Phong nói là phải tôn trọng ý kiến của bạn đọc, dù comment thế nào cũng phải đăng lên, trừ khi văng tục, viết thô. Do đó, tôi cho rằng là các ông Huệ Phong, Minh Tiến nói một đường làm một nẻo. Đây cũng chắc là lý do Tân Thanh không thể đứng chung mặt trận văn hóa Phật giáo với các ông vậy!

               Thưa ông Minh Tiến! Tôi cũng thấy ông thực sự có “MINH” để mà “TIẾN” vì ông Minh Tiến vừa “đá bóng vừa thổi còi” thì làm sao luận giả nào chịu cho nổi?

                Thế mới hay, học giả chẳng khác gì người thường, hơn kẻ khác ở chỗ biết “khiêm hạ” để tạo vỏ bọc quân tử, nhưng bên trong có nhiều thủ đoạn. Đây là chỗ ngộ nhận của mọi người như “họa bì nan họa cốt” vậy!  Ôi chao! Một kẻ dạy  người khác nên đọc kinh điển như thế nào?, rồi tự nói mình được an lạc nhờ đọc tụng kinh điển, liệu có ai tin không?

              Thưa ông Minh Tiến! Ông cho rằng “ý kiến của đa số comment còn mơ hồ trong việc tiếp cận kinh điển” thì tại sao ông không đăng những comment của họ để phân tích ra vì sao, do đâu, y cứ theo kinh điển nào, cho bạn đọc thấy họ có “mơ hồ” hay chính ông “hô biến” họ thành “mơ hồ”? Như ông đã viết muốn biết món hàng đó thật giả mà muốn thẩm định thì cần phải xem bản gốc, thì tại sao ông không trình ra “bản gốc”? Thưa ông, tại sao như vậy? Điều này, xin ông cho phép tôi nhận định là ông luôn tự cho mình đúng, không cho người khác luận kiến mà chỉ đưa luận giải “áp đặt” của mình. Thế mà trong thư trả lời Tân Thanh, ông tự xưng chỉ là người bình thường thôi! Khiêm tốn kiểu “Nhạc Bất Quần” của ông đưa biết bao người vào ma trận ngôn từ của ông vốn dĩ chỉ là “tầm chương, trích cú”. Đây là ngộ nhận đáng thương!

            Viết đến đây tôi liền nhớ lời dạy của thánh sư Gampopa, thành tựu giả Mật tông Tây Tạng viết: “Thông thái về giáo lý trong khi cạn cợt về thực hành tâm linh cũng giống như người giàu đánh mất chìa khóa mở kho tàng của mình. Đây là một thất bại trầm trọng của đời người”.

          Tôi nói như vậy không chủ quan, bởi tôi có người đồng đạo đã đến nhà ông ở xã Sông Xoài, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thấy ông viết về thiền mà không ngồi kiết già được, giảng trước 8 đạo hữu Mật tông mà tay chân run lẩy bẩy. Thế mới biết, giữa học giả và hành giả còn một khoảng cách.

              Lý ra tôi không cần biện luận thêm nữa vì ông tự xác định vị trí của mình là người bình thường, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cần hiểu biết của bạn đọc, minh định thực chất kinh Vu lan bồn, nên tôi nêu ra tiếp những luận kiến của mình.

II/ ÔNG NGUYỄN MINH TIẾN “ĐI MUA NHÀ MÀ CHỌN CỬA SỔ ĐẸP”

       1/ Tôi đã viết trong comment của mình rằng cần minh định bất kỳ một loại kinh nào của đạo Phật theo lời dạy của Ngài là phải dựa và “TỨ PHÁP ẤN” (1)Chư hành vô thường (2)Chư pháp vô ngã (3)Thọ thì bất tịnh (4) Niết bàn tịch tĩnh. Do vậy, sau khi thức ngộ từ lời của hòa thượng Tuyên Hóa về kinh Vu lan bồn là ngụy tạo, liền dựa vào “tứ pháp ấn” mà xét soi, rồi tôi mới kết luận.

             Riêng về phần trích lời của hòa thượng Tuyên Hóa, tôi không thể “chỉ nghe người khác nói về nó đã vội kết luận” (hết trích từ bài của ông). Đây là nguyên tắc “thánh giáo lượng” trong Nhân minh học Phật giáo, xin ông xem lại “Ngũ lượng phương tiện biện giải Phật gia” để hiểu rằng tôi không chủ quan.

               Vì sao? Theo Phật giáo, muốn hiểu một vấn đề khỏi mắc sai lầm thì phải y vào 5 yếu kiện sau đây gọi là 5 lượng: hiện lượng; tỉ lượng; thánh giáo lượng (nương theo lời của bậc thánh mà phán xét); thí dụ lượng; thần thông lượng. Hòa thượng Tuyên Hóa là ai chắc ông là học giả hiểu biết nhiều hơn tôi.

                Ông cũng phê phán tôi rằng ngài Tuyên Hóa nói ở đâu, chương, dòng, trang, sách? Thưa ông, tôi xin được minh giải sau đây:

              Thứ nhất, xin ông đừng hỏi vì sao tôi đã đọc như vậy, mà hãy hỏi tại sao ông chưa đọc. Có lẽ vì ông bận viết lách mưu sinh quá chăng?

              Thứ hai, có khi nào ông bảo tôi: “Anh vừa viết là thời gian có tính tương đối như Albert Einstein nói, vậy hãy nói ra điều kiện nào có câu này, trong sách nào, chương dòng nào?”. Thưa ông cũng vậy, hòa thượng Tuyên Hóa đã nói mà tôi đã đọc, không cần phải trích trang dòng chương sách trong khi chỉ là một comment, không phải là quyển sách học thuật hoặc bài viết hoàn chỉnh. Vì vậy, phản biện của ông đối với comment của tôi như:

  1. “niềm sùng mộ của tôi đối với Ngài vào thời điểm đó là tuyệt đối”;
  2. “chớ vội tin”

Chúng không thể đứng vững trước luận đề “thánh giáo lượng” mà tôi đã phân tích như trên. Lại nữa, khi ông đã viết “chớ vội tin” thì tại sao ông lại không cho tôi nghi ngờ vào kinh Vu lan bồn? Ở đây lập luận của ông trở nên “tiền hậu bất nhất”.

                 Thưa ông Minh Tiến, dường như ông chưa đọc kỹ comment của tôi cụm từ là “Giờ đây, bình tâm mà xét lại quả nhiên kinh Vu lan bồn lộ ra nhiều sơ hở, trái với chánh tư duy nhà Phật” (hết trích). Điều đó, có nghĩa rằng tôi đã làm theo tinh thần kinh Kalama “chớ vội tin”, bởi lẽ Phật dạy “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng giáo pháp của ta” (câu này có cần trích chương dòng không ông nhỉ?). Sau đó, tôi dùng “Tứ pháp ấn” là một loại “kính chiếu yêu” rọi vào nội dung kinh văn rồi mới viết ra.

                  Riêng với ông Minh Tiến, thưa toàn thể bạn đọc, từ đầu đến cuối bài ông Minh Tiến không đưa cái “kính chiếu yêu” này, không dựa vào trạch pháp nhãn. Ông “trích cú, tầm chương” đối với một thể loại comment thì rõ ràng ông bỏ nghĩa lấy lời, trong khi Phật dạy “Tứ y cứ” là (1) Y pháp bất y nhân (2) Y nghĩa bất y ngữ (3) Y trí bất y thức (4) Y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa. Vậy, ông Minh Tiến chẳng khác chi “Đi mua nhà mà chọn cánh cửa sổ đẹp”.

KỲ 4: NGỘ NHẬN: BẢN GỐC MÀ KHÔNG GỐC

Chúng ta hãy xem ông Minh Tiến viết:

       “…chúng ta cần nhìn thấy bản văn gốc của kinh Vu Lan Bồn hiện đang tồn tại. Cũng như khi muốn thẩm định một món đồ là thật hay giả, chúng ta phải tận mắt nhìn thấy món đồ ấy, không thể chỉ nghe người khác nói về nó đã vội kết luận…”.

       Mới nghe qua cũng có lý, nhưng đọc kỹ thì đây là xảo biện. Thế nào là bản gốc, bởi nguồn gốc của nó không phải là kinh văn mà là kim khẩu của Đức Phật, vậy thì làm sao thẩm định nếu không dựa vào “Tứ pháp ấn”, tức là 4 tinh yếu thuộc nhân minh luận của nhà Phật? Nếu như theo ông Tiến nói là xem bản gốc từ tiếng Hán và Phạn thì lối biện giải “hiện lượng” ở đây không đúng. Theo nhân minh học, đặc biệt trong “năm lượng phương tiện biện giải” thì phải dựa vào “thánh giáo lượng”, có nghĩa là những lời dạy khẳng định, xác quyết, khuyến cáo của Đức Phật và Thánh chúng, chứ không phải là bộ Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, vốn là sự chọn lọc không phải thời kết tập kinh điển chính thống, chưa kể là sự can thiệp của vương triều thời đó. Do vậy mới có cụm từ “Phật giáo Quân vương”. Đây là nguyên nhân tạo ra những kinh ngụy tạo gọi là “ngụy thư”. Tôi sẽ bàn luận về vấn đề này như sau để bạn đọc thêm phần hiểu biết về thực trạng ngụy tạo kinh điển Phật giáo.

                Kinh điển ngụy tạo được thuật ngữ quốc tế gọi là Apocrypha có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển. Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thầy có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). Các bộ kinh Trung Quốc hay có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngỏ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

       Ngang qua luận kiến trên bạn đọc đừng bao giờ nghe ai bảo kinh tức là kinh, mà phải làm theo tinh thần dân chủ, độc lập, công khai mà Phật dạy trong kinh “Kalama”: “Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều gì mà điều đó là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin một điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”. (Kinh Kalama – Tăng chi bộ I).

                Vì vậy cho nên những gì làm nền tảng luận cứ cho ông Minh Tiến vẫn còn hạn cuộc trong giới hạn “bối cảnh lịch sử”. Chẳng hạn như có vị vua nào đó, muốn chọn kinh nào theo ý của mình thì Ban chỉnh tu kinh điển có dám trái lời không? Chẳng hạn như Võ Tắc Thiên chọn ngụy thư Đại Vân, vua Lương Võ Đế chọn “Phạm Võng”. Còn nếu dựa vào luận điển của Phật gia thì vô hạn, vô cùng và bất biến.

              Sẵn đây tôi cho ông Minh Tiến biết, con số kinh được ngụy tạo gọi là ngụy thư, chiếm kỷ lục thuộc về Trung Quốc. Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550, khi chúng ta tính cả hai loại bằng chứng văn học, ví dụ những văn bản không liệt kê trong danh mục nhưng lần lượt được tìm thấy trong tập hợp các văn bản Phật giáo và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản. Khoảng chừng một phần ba tổng số này còn tồn tại đến ngày nay, một con số lớn kinh ngạc đối với sự kiểm duyệt liên tục ngụy thư suốt thời Trung cổ.

Tỉ lệ ngụy thư còn sót lại đã chứng minh cho tính “lợi hại” của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này, trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như Trí Giả (538-597), người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy kinh tại Trung Quốc cũng đã thúc đẩy cho sự lan rộng kinh điển ngụy tạo tại các vùng khác thuộc Đông Á, mặc dù không nơi đâu lại nhiều bằng tại Trung Quốc.

Những kinh ngụy tạo này đã thêm vào chiều kích mới cho sự phát triển Đạo Phật Trung quốc, một phần nhờ tình trạng tôn sùng kinh điển ở Trung quốc, nhưng quan trọng nhất là vì để đáp ứng nhu cầu cho chính tôn giáo và văn hóa tại Trung quốc, phục vụ cho sự củng cố vương triều phong kiến. Thái độ “nô lệ tâm linh” và pha tạp tín ngưỡng dân gian với niềm tin đạo Phật chân chánh là mảnh đất phì nhiêu cho ngụy thư xuất hiện.

Nay có người can đảm xét lại thì họ phản đối mạnh mẽ, vì đụng chạm đến quyền lợi quá lớn từ thí chủ cúng dường, viếng cảnh vào mùa Vu lan tháng Bảy, chữ hiếu mơ hồ tựa như ngu hiếu. Cho nên oái ăm ở chỗ là lễ Phật đản (đúng ra là ngày 8 tháng Tư âm lịch, sau đó con người nhân danh tổ chức, hội đoàn dời qua ngày 15 tức là rằm tháng tư). Chỉ riêng điều này đủ thấy sự can thiệp của con người vào kinh văn chính thống.

              Viết đến đây tôi liên tưởng đến hàng ngàn cô gái miền tây “trả hiếu” cho cha mẹ bằng cách hy sinh thân gái, đơn độc và buồn tủi nơi đất khách quê người. Một số cha mẹ gả con chẳng khác gì là bán để lấy tiền, để mong có đồ nước ngoài gửi về, bất chấp con mình như thế nào. Vậy cái hiếu đó đáng ca ngợi chăng, hay là chẳng khác gì việc buôn người mà luật pháp không thể rờ gáy được bởi vì họ là cha mẹ. Đó là ngu hiếu bởi vì nghe theo những người thân một cách mù quáng, tựa như người Phật tử đọc tụng và hành trì theo ngụy thư mà ngộ nhận là kinh Phật.

Rất nhiều người trong họ theo Phật, chắc gì không bị ảnh hưởng bởi chữ hiếu trong kinh vu lan bồn, đã đâm sâu vào gốc rễ vô minh của họ. Đặc biệt là kinh “Phật thuyết Đại báo phụ mẫu trọng ân”, vốn là ngụy thư được Trung Quốc triệt để khai thác chữ “hiếu”.

                Nếu bảo rằng Phật thuyết kinh Vu Lan Bồn để nhắc nhở con cái báo hiếu cho cha mẹ hiện đời vào dịp Vu Lan thì vô lý. Bởi tất cả chúng sanh đều là cha, là mẹ trong vô số kiếp trước của ta thì sao chỉ báo hiếu cho cha mẹ kiếp này thôi? Còn vô số những bậc cha mẹ khác không cần quan tâm à? Mà sao phải đợi đến mùa Vu Lan mới báo hiếu? Báo hiếu bằng cách nào đây? Đến chùa, cúng tiền và ghi tên vào danh sách cầu an, cầu siêu rồi “nhờ” người khác làm an, làm siêu cho cha mẹ giúp mình à? Thật là buồn cười!

Theo như luận giải của ông Minh Tiến: “Điều này cũng tương tự như đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta có ngày Môi trường thế giới 5/6, ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11… ? Chẳng lẽ những ngày khác trong năm thì không quan tâm đến môi trường, không tôn trọng nữ giới, không nhớ ơn Thầy Cô… ?” Đây là chuyện quá đơn giản nên xin tùy độc giả xem lại cách đặt vấn đề này của ông Đáo Bỉ Ngạn, tôi thấy không cần thiết phải dài dòng thêm ở đây”. hoàn toàn là không đề cập đến “hiện lượng” của vấn đề tại sao mùa vu lan có cầu an, cầu siêu với lượng khách thập phương đông đảo nhiều hơn cả ngày Phật đản, trong khi Phật dạy: “duy tuệ thị nghiệp”, không lấy hiếu làm đầu. Ảnh hưởng này từ đâu? Có nằm trong quỹ đạo chánh pháp hay không trong khi người tu Phật tức là thực hiện Đại Hiếu?

Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường là đền ơn phụ mẫu thì Ngài không bỏ cung vàng điện ngọc ra đi tầm đạo. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường  thì lục tổ Huệ Năng không nhờ người khác nuôi mẹ dùm mà đi vào bái lễ ngũ tổ làm Thầy. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì ngũ tổ không để mẹ mình làm công quả, ăn uống đạm bạc, ngủ nghỉ đơn sơ như bao nhiêu người áo lam khác trong chùa. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì Hoàng Bá Hy Vận đại sư không thèm chào hỏi người mẹ mù mắt của mình. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì Tế Công hòa thượng rời nhà 40 năm mới về, lúc ấy cha mẹ đã mất từ lâu. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì hòa thượng Hư Vân không lén bỏ nhà ra đi dầu là con một và đang có 2 vợ. Nếu thật sự Phật đề cao chữ hiếu tầm thường thì các vị lạt ma tái sanh ở Tây Tạng không rời cha mẹ lúc 5 tuổi.

KỲ 5: NGỘ NHẬN: NGỤY THƯ KHIẾN NGỤY HIẾU

              Hòa thượng Tuyên Hóa đã chia ra 4 loại hiếu: Hiếu thuận với cha mẹ mình là cận hiếu; Hiếu kính với cha mẹ bạn là viễn hiếu; Chăm lo phụng dưỡng cha mẹ, không làm ô nhục dòng họ, gia đình là tiểu hiếu; Khuyên cha mẹ làm lành, tu theo Phật pháp là đại hiếu. Như vậy cách báo hiếu tốt nhất là tự mình thực hành Pháp rồi hồi hướng công đức đó cho cha mẹ sau mỗi thời công phu như lời dạy của thành tựu giả Dilgo Khyentse thuộc Phật giáo Tây Tạng. Mặc khác ta nên giúp cha mẹ tu tập Phật pháp là tốt nhất, chứ không phải là báo hiếu “hình thức”, nhờ người khác báo hiếu hộ… vào mỗi dịp Vu Lan ngắn ngủi hàng năm!

               Thói quen “báo hiếu” này xin các bạn đọc suy gẫm lại từ đâu. Oái ăm thay! Ngụy thư lâu ngày được đọc tụng thành thánh thư, “y giáo phụng hành”. Bấy giờ ai nghi ngờ thực chất giả mạo thì bị cho là bất kính, tội lỗi. Tôi nhớ lại Galilê người tuyên bố trái đất quay xung quanh mặt trời nói trước khi bị trảm quyết: “Dầu sao trái đất vẫn quay”.

       Hòa thượng Tuyên Hóa kể rằng những người ở Đại lục vượt biển qua Hồng Kông làm sẵn bằng tốt nghiệp cấp III giả mạo để xin đi làm. Họ được nhận vào công ty, nhà máy. Đến khi lớp khác vượt biển qua, trình bằng tốt nghiệp chính quy, thì người ta lại không nhận mà cho là giả mạo. Cũng vậy, ở nước ta và Trung Quốc, kinh Vu lan này đã tồn tại hằng ngàn năm qua, trở thành “cố định”, làm sao người ta dám bác bỏ, trong khi kinh này đem lại lợi ích cung dưỡng cho chùa, và củng cố nền tảng phong kiến chuyên chế của các vương triều Trung Quốc.

                Tập hợp các ngụy thư bao gồm cả hai loại: kinh ngụy tạo và các văn bản được bảo tồn như là nguồn tham khảo trong các bộ luận Trung Quốc. Kinh ngụy tạo cũng đã được tìm thấy trong bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ phát hiện trong hiện tại. Thứ nhất là kho cất dấu tại Đôn Hoàng ở Trung Á, được phát hiện trong thế kỉ 20, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Hai là các bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12, dựa vào các ấn bản kinh Phật trước đó.

Vào năm 1990, phát hiện cho thấy có cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất trong lịch sử tìm kiếm là trong các bộ kinh được tìm thấy này là cuốn kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư, học giả nổi tiếng Đạo An (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc.

               Các công cuộc tìm kiếm khác cũng không kém phần giá trị trong sự xác nhận toàn cảnh lịch sử của kinh ngụy tạo: Cả hai loại bản thảo tại Đôn Hoàng và tại Nanatsu-dera bao gồm nhiều tựa đề không thấy có trong các bảng danh mục Đại Tạng, bằng chứng chỉ ra rằng sự tự sáng tác ra kinh bản xứ còn nhiều hơn như trước đây người ta nghĩ. Hơn bao giờ hết, các học giả chuyên môn cần phải đề xuất ra hay phân loại một cách thuyết phục các kinh ngụy tạo tìm thấy ở Nanatsu-dera là soạn thảo của Nhật Bản dựa trên văn bản Ấn Độ, hay dựa trên kinh ngụy tạo ở Trung Quốc. Như vậy các ngụy thư còn tồn tại ở Nhật Bản được đóng vai trò là bằng chứng cho sự ảnh hưởng và phổ biến của loại văn bản còn tranh chấp nhưng rõ ràng “thực dụng” này.

              Tại sao kinh ngụy tạo khó phát hiện? Như đã nói trên về thái độ nô lệ tâm linh, mặt khác sự tinh xảo trong việc “chế tác đồ giả” cùng với sự bảo tín của quý chùa chiền, chư tăng ni thiếu hiểu biết tường tận, hoặc là vì quá nể trọng bậc tiền bối tâm linh nên không dám ý kiến, mặc định ngụy thư lâu ngày chày tháng trở thành chính thống!

                 Tập hợp văn học ngụy tạo hiện còn tồn tại thách thức sự diễn đạt đơn giản, ví dụ mỗi văn bản có riêng một học thuyết hay một khuynh hướng thực hành, động lực, và mô thức văn học hay kĩ thuật. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật giáo nguyên thủy (chính thống) từ Ấn Độ mà không nói bất cứ gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng; tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về cẩu thả những yếu tố Phật giáo nhằm mục đích giải thích cho cái tựa đề là “kinh” (tức Jing trong tiếng Trung Quốc). Đa số các kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và cách thực hành Phật giáo như là phương tiện để thu hoạch lợi ích thế gian.

                Một số kinh ngụy tạo thêm vào các nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. Chẳng hạn như “kinh vu lan bồn, Đại báo phụ mẫu trọng ân…”. Giới luật, nền tảng của giải thoát Phật giáo, đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Ví dụ như kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra)). Kinh này thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng, một xảo thuật lộ liễu phản lại cả truyền thống Trung Quốc cũng như nỗ lực tương thích hai hệ thống giá trị quá khác biệt.

                Khái niệm “Hiếu” thể hiện rất rõ trong kinh Đại Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân (Fumu enzhong jing – the Scripture on profound gratitude toward parent) đặt căn bản trên giáo huấn theo kiểu “24 ân phụ mẫu” của Khổng Tử. Ngụy thư tô đậm hành động cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hi sinh bằng cách cúng dường tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Loại kinh này là một trong những kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ.

III/ ĐƯA KINH “VU LAN BỒN”  TRƯỚC LĂNG KÍNH “CHÁNH TƯ DUY”.,

SỚ BỘ KINH.
ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH.

PHẬT THUYẾT VU LAN BỒN KINH.

Đời Tây Tấn, Nguyệt thị Tam Tạng Trúc Pháp Hộ dịch từ Phạn sang Hán.
Quang Đăng dịch từ Hán sang Việt.

Như vậy tôi nghe: Một thời Phật tại nước Xá Vệ trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, Đại Mục Kiền Liên mới đắc lục thông, muốn độ phụ mẫu báo ân nhũ bộ, liền dùng đạo nhãn quán thế gian, thấy vong mẫu của mình sanh trong ngạ quỷ, không thấy thức ăn, xương the dính sát lại với nhau.

Mục Liên bi ai, liền mang chén đầy cơm đến cho mẹ. Người mẹ được bát cơm, liền lấy tay trái che cơm, tay phải bốc cơm ăn, cơm vừa đưa đến miệng thì hóa thành than lửa. Mục Liên rất đau buồn gào khóc thảm thiết, nhanh về bạch Phật, thuật lại đầy đủ như đây.

Phật dạy: Mẹ ông tội căn rất chặt, chẳng phải một mình sức ông giúp được. Ông tuy hiếu thuận vang động trời đất; thiên thần địa thần, tà ma ngoại đạo, Đạo sĩ, Tứ Thiên Vương thần cũng không thể giúp được; phải tụ lực uy thần của chúng Tăng mười phương mới được giải thoát. Ta nay sẽ nói pháp cứu tế cho ông, khiến tất cả nạn đều lìa, ưu khổ tội chướng tiêu trừ.

Phật bảo Mục Liên: Mười phương chúng Tăng vào ngày mười lăm tháng bảy là lúc Tăng tự tứ, phải vì cha mẹ bảy đời, và cha mẹ hiện tiền trong ách nạn, bày đủ cơm trăm vị, năm thứ trái cây, nước rưới, bồn chậu, đồ dùng, thỏi hương dầu đốt, sàng phu ngọa cụ, thơm ngon nhất đời đựng trong bồn, cúng dường chúng Tăng đại đức mười phương.

Trong ngày này, tất cả thánh chúng hoặc tại sơn gian thiền định, hoặc đắc tứ đạo quả, hoặc dưới cây kinh hành, hoặc lục thông tự tại giáo hóa Thanh Văn Duyên Giác, hoặc thập địa Bồ Tát đại nhân quyền hiện Tỳ Kheo, ở trong đại chúng sẽ đồng nhất tâm thọ nhận bát cơm Hòa La.

Đạo của thánh chúng đủ giới thanh tịnh, đức đó sâu như biển. Người có cúng dường tự tứ Tăng già này, cha mẹ hiện tại, hoặc cha mẹ bảy đời, sáu hàng quyến thuộc được ra khỏi khổ tam đồ, tùy thời giải thoát, y thực tự nhiên. Nếu cha mẹ của người còn hiện tiền thì phước lạc trăm năm, nếu cha mẹ quá vãng trong bảy đời được sanh lên trời, tự tại hóa sang nhập trong thiên hoa quang, thọ vô lượng khoái lạc. Thời Phật lệnh mười phương chúng Tăng đều đến trước chú nguyện cho thí chủ, cha mẹ bảy đời, hành ý thiền định rồi sau thọ thực. Lúc mới nhận bồn, đầu tiên để tại trước tháp Phật, chúng Tăng chú nguyện xong, rồi tự thọ thực.

Bấy giờ Mục Liên Tỳ Kheo và chúng đại Bồ Tát trong đại hội đều rất hoan hỷ, tiếng buồn rầu kêu khóc của Mục Liên thích nhiên trừ diệt. Lúc này mẹ của Mục Liên tức trong ngày này được thoát một kiếp khổ ngạ quỷ.

Bấy giờ, Mục Liên lại bạch Phật rằng: Đệ tử được cha mẹ sanh ra, được gặp sức công đức của Tam Bảo, lực uy thần của chúng Tăng, nếu trong đời vị lai, tất cả đệ tử Phật, người hành hiếu thuận cũng nên phụng Vu Lan bồn này, cứu độ cha mẹ hiện tại nhẫn đến cha mẹ trong bảy đời, có phải như vậy không?

Phật nói: Hỏi rất hay! Ta đúng lúc muốn nói, ông nay lại hỏi. Thiện nam tử! Nếu có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Quốc vương, Thái Tử, Vương Tử, Đại Thần, Tể Tướng, Tam Công, bá quan, vạn dân, thứ nhân đều nên vì cha mẹ hiện tại sanh ra mình và cha mẹ bảy đời quá vãng, vào ngày mười lăm tháng bảy, ngày Phật hoan hỷ, ngày Tăng tự tứ, khất nguyện dễ khiến cha mẹ hiện tại thọ mạng trăm năm không có bệnh tật, không có tất cả hoạn nạn khổ não, cho đến cha mẹ bảy đời lìa khổ ngạ quỷ, được sanh trong người trời, phước lạc vô cực.

Phật nói: Các thiện nam tử, thiện nữ nhân là đệ tử của Phật tu hiếu thuận, phải trong niệm niệm thường nhớ nghĩ cúng dường cha mẹ cho đến cha mẹ bảy đời, hằng năm vào ngày mười lăm tháng bảy, thường dùng lòng từ hiếu thuận cha mẹ đã sanh ra mình, cho đến cha mẹ trong bảy đời làm Vu Lan bồn thí Phật và Tăng, để báo ân từ ái trưởng dưỡng của cha mẹ. Tất cả đệ tử Phật phải nên phụng trì pháp này.

Lúc đó Mục Liên Tỳ Kheo, tứ bối đệ tử nghe Phật thuyết xong hoan hỷ phụng hành.

 Bây giờ chúng ta cùng nhau phân tích nội dung kinh văn:

  1. Sau khi đắc lục thông tức là có lậu tận thông là không phiền não, ưu sầu thì làm sao ngài Mục Kiền Liên lại có biểu hiện thường tình của một kẻ phàm phu như vậy? (Mục Kiền Liên nhớ mẹ, tỏ ra bi ai, đem cơm cho mẹ, mà sao chỉ mình mẹ thôi, còn chúng sanh khác thì sao? Lẽ nào ngài lại chấp thủ tình thân như vậy? Sau đó lại đau buồn gào khóc thảm thiết).  Nên nhớ, luyến ái, bi ai mà ái sinh thủ, thủ sinh hữu…trái với quán niệm lý “Nhân duyên” mà bất kỳ vị A la hán nào cũng am tường và ứng dụng trong hành vi thân ngữ tâm.

Do đó cho thấy lăng kính pháp ấn “Niết bàn tịch tĩnh” là không đúng với một bậc đắc thánh quả A la hán, vốn là tâm bất động trước biến động sanh tử luân hồi. Sự sơ hở trầm trọng và lộ liễu nhất là khi chúng ta đều biết ngạ quỷ dùng “hương thực” chứ đâu phải “đoạn thực” mà dâng cơm?

  1. Đức Phật nói tội của mẹ ngài rất nặng, tà ma ngoại đạo, đạo sĩ, tứ đại thiên vương cũng không thể giúp được.

Khi học Phật chúng tôi được biết, thần thông của một A la hán, xét về đạo lực thì rất oai dũng, cao siêu, cần gì phải kể đến các loại đối tượng như đạo sĩ, tứ đại thiên vương, tà ma ngoại đạo. Dù cho ngài muốn chuyển sang thần lực của Tăng đoàn cũng không phải phát ngôn câu tầm thường như vậy. Có bao giờ mẹ ông tổng thống bị tù trong lao ngục, bậc minh triết nào đó nói: “Mẹ ông tội nặng lắm, Bộ trưởng, Tỉnh trưởng cũng không cứu được”. Câu này nên dành cho người dân thường. Cũng vậy, không thể nói đây là thánh ngôn của Đức Phật.

              Nhân đây, tiện thể tôi cũng phản biện về luận đề mà ông đưa ra:

Người nữ bà-la-môn niệm Phật để cứu mẹ mình trong 1 ngày đêm => có kết quả

Năm trăm vị A-la-hán chú nguyện để cứu mẹ ngài Mục-kiền-liên => có kết quả

Suy ra: Năm trăm vị A-la-hán chú nguyện = Người nữ bà-la-môn niệm Phật

Sự tóm tắt như trên phản ánh trung thực những gì nêu ra trong đoạn văn, nhưng khi nhìn vào hẳn quý vị sẽ thấy ngay tính khôi hài và vô lý của nó! Một đàng là niệm tôn hiệu Phật, nghĩa là cầu sự gia bị của đức Phật, và có kết quả là nhờ đặt niềm tin vào Đức Phật, nhờ có tha lực của Đức Phật; còn một đàng là sự chú nguyện trực tiếp của các vị A-la-hán cho mẹ ngài Mục-kiền-liên, hai trường hợp, hai phương tiện, hai pháp môn, hai đối tượng đều hoàn toàn khác nhau, làm sao có thể so sánh được?

                       Thưa ông Minh Tiến và bạn đọc!

              Lại một lần nữa ông Minh Tiến cố tình không đọc từ “đạo lực”, lại xảo biện theo chủ quan của mình cho rằng đây là 2 pháp môn khác nhau thì không thể so sánh được? Tôi xin thưa như thế này:

              Chúng ta biết mọi pháp tu nào của Phật nếu tinh tấn và đúng pháp thì sẽ đạt kết quả là giải thoát. Cũng vậy, người tu Tịnh độ thì niệm Phật, người tu Thiền thì tĩnh tọa thiền định, người niệm chú thì tam mật tương ưng. Rốt lại họ có được một điểm chung để so sánh là đạo lực. Vì vậy, sự so sánh này xét về đạo lực như tôi đã viết thì không sai. Cũng như lên võ đài, dù nhiều võ sĩ khác môn phái, nhưng có chung một phân định rõ ràng là nội công thâm hậu, từ đó phân định kết quả.

                 Sẽ buồn cười nếu nói rằng 500 võ sĩ thượng thừa ngang bằng với một võ sĩ mới nhất tâm luyện võ trong  1 ngày đêm!? Ông Minh Tiến nên nhớ, một A la hán phải tu qua 3 a tăng kỳ kiếp, rồi mới chứng thánh quả trong hiện kiếp, lẽ nào lại bằng đạo lực của người phụ nữ Bà la môn về phương diện tu hành?  Vì thế, khi đọc kinh này mà nói như ông Minh Tiến, cần phải đối chiếu với nhiều kinh khác, cần phải minh định, thì kinh Vu lan bồn gây ra đại họa là “phê bình giáo pháp” nhà Phật?

KỲ 6: NGỘ NHẬN VỀ ÔNG NGUYỄN MINH TIẾN

                     Lại nữa, thưa ông Minh Tiến!

                 Ở đoạn phản biện này, ông ẩn dụ một hình ảnh nhằm vào tôi là “một học sinh tiểu học, không qua nổi kỳ thì tốt nghiệp”, thì ông vui lòng xem lại sự ngộ nhận của ông khi bỏ qua từ “đạo lực” để dùng chiến thuật “cả vú lấp miệng em”. Và ở đây cũng cho thấy ông quá kiêu ngạo, sẵn sàng nhục mạ luận giả khi tranh luận bằng từ “phóng tưởng”.

               Tôi cảm ơn ông đã viết như vậy vì đã cho tôi thấy được nhân quả hiện tiền, là sau đó tôi được Tân Thanh gửi đến email mà chính ông đã tự bóc trần mặt nạ tâm thức của ông qua sự mô tả thủ đoạn luận bút, ngôn từ thể hiện của ông, qua đời sống thực của ông mà người khác viết với chứng cứ rõ ràng. Im lặng tức là chấp nhận phải không ông Minh Tiến? Sau đây là trích đoạn:

  Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <nguyenphamtanthanh@gmail.com>

Ngày: 00:27 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: nguyenminh@rongmotamhon.net

Bài viết của ông Nguyễn Minh Tiến thật là dài và công phu nhưng tôi nghĩ độc giả nên xem lại và đừng vội đặt niềm tin nơi ông vì Đức Phật từng dạy trong Kinh Tứ Thập nhị chương rằng: chưa đắc quả A la hán thì đừng vội tin nơi tâm ý mình. Ông Nguyễn Minh Tiến chưa phải là thánh nên những luận giải của ông chưa phải là đúng, là chân lý.
Huống hồ, đức Phật từng dạy trong kinh Kamala (Tăng Chi Bộ), rằng “Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều gì mà điều đó là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin một điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”.
Tuy ông Nguyễn Minh Tiến được nhiều người ca tụng là một học giả “uyên thâm” Phật pháp, kinh điển nhưng thực tế tôi có một vị Thầy từng cộng tác với ông nên có dịp gặp ông và chứng kiến cuộc sống của ông nên biết được rằng, lời ông nói chỉ toàn sáo rỗng, ông có vẻ là một người “đa văn” nhưng thực chất chẳng có công phu tu hành gì mấy. Trên văn đàn toàn là những lời kinh văn thông suốt, ngôn ngữ chau chuốt… nhưng đời sống của ông nhiều lúc lại trái ngược với những gì ông viết hay rao giảng. Là người được nhà sách Quang Minh, công ty văn hóa Hương Trang giao trọng trách hiệu đính, kiểm duyệt nội dung sách Phật giáo được xuất bản nên ông thường o ép, nhũng nhiễu những tác giả cần đến ông, hễ cung kính, cho ông “lễ vật”… thì được ông giúp đỡ, bằng không thì… ông phản bác, cho loại, hoặc để mình ông đứng ra dịch thay và lấy tên mình.
Ông còn gợi ý người khác mua những sản phẩm do mình dịch, viết… và còn nhiều những thái độ trịch thượng khác nữa mà có lẽ bản thân ông biết rõ hơn ai hết, tôi không tiện nêu ra! Thầy tôi cũng là một trong nhiều nạn nhân của sự trịch thượng này. (trong bài này tôi cũng thấy ông khoe khoang, giới thiệu đường dẫn hầu hết đến trang web của ông là trang rongmotamhon.net, có lẽ để giới thiệu sản phẩm, chiêu dụ bạn đọc mua sách/đọc sách của ông chăng???)
Đối với kẻ dưới quyền thì vậy, nhưng đối với người trên thì ông lại có thái độ “nịnh nọt” cung phụng, như là “tặng sầu riêng cho vợ của sếp”, tôi còn nghe ông nói rằng mình còn phải “cày” để “kiếm cơm” kể cũng tội nghiệp thật, nhưng với một vai trò, vị trí của một học giả “tiếng tăm” như vậy thì thật chẳng cân xứng chút nào và thật đáng xấu hổ cho thái độ “nịnh trên, nạt dưới” của ông.
Ai đã từng gặp gỡ, làm việc với ông thì chắc sẽ tường tận và thấm thía… hơn!!!
Mong mọi người hãy tự mình thắp lên ngọn đuốc Chánh Pháp mà đi theo lời Phật dạy. Đừng vội tin và nghe theo những người có vẻ là đa văn, chuyên “ói mửa” giáo lý mà chẳng thấm nhuần giáo pháp, lời nói và tâm ý thì khác nhau, hiểu biết mà chỉ để trang hoàng, khoe khoang vòng hoa kiến thức trên đầu mình để người khác tán tụng nhưng lại không đi đôi với thực hành ứng dụng (giống như ông Minh Tiến nêu trên). Hãy cẩn thận với những hạng người này, như là Thiện Tinh tỳ kheo thời đức Phật khi xưa vậy!
Cầu mong khổ đau của tất cả chúng sanh được lắng dịu và họ sẽ nhanh chóng thành tựu được hạnh phúc của Phật tánh!
Mong ông Nguyễn Minh Tiến hãy tự quán xét lại bản thân mình để biết tàm quý hơn, để có thể trở thành người tối thượng thứ hai theo lời Phật dạy.
Mong lắm thay.
Đỗ Cao Tường
———-

Từ: Nguyễn Minh Tiến <nguyenminh@rongmotamhon.net>
Ngày: 07:11 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: Nguyễn Phạm Tân Thanh <nguyenphamtanthanh@gmail.com>

Cảm ơn Tân Thanh đã chuyển comment.
Chuyện này không quan trọng, tôi và Phong đã trao đổi rồi. Khi người ta “đuối lý” và sân hận thì chuyện gì họ cũng làm, điều gì cũng nói, kể cả làm bậy và nói láo. Nhưng tôi chấp nhận chuyện đó khi đứng ra phân vạch đúng sai giúp độc giả.

Thân mến,

BBT Rộng mở tâm hồn
Nguyên Minh
———————-
http://rongmotamhon.net/

Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <nguyenphamtanthanh@gmail.com>
Ngày: 11:06 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: Nguyễn Minh Tiến <nguyenminh@rongmotamhon.net>

Tôi nghĩ họ không nói láo đâu anh Minh Tiến ạ? Tôi có dịp nói chuyện cùng Võ Quang Nhân về LAMRIM Đại Luận nên cũng có dịp được Võ Quang Nhân đem những lời khó nghe nói về anh. Tuy nhiên, anh đúng hay Võ Quang Nhân đúng điều đó không quan trọng nhưng cũng là cơ sở để họ hiện lượng biện giải. Đây cũng là một phương pháp mà Tây Tạng sử dụng trong những cuộc tranh luận của họ trong 5 năm học Nhân Minh Học.

Trở lại vấn đề chính. Tôi đứng về quan điểm cho rằng kinh vu lan bồn là giả. Vì sao?
Vì Tứ Pháp Ấn đã minh định:
Chư hành là vô thường
Chư pháp là vô ngã
Thọ là bất tịnh
Niết bàn tịch tĩnh
Với tư cách là một học giả và là hành giả. Tôi nhận thấy Kinh Vu Lan không đáp ứng được Tứ Pháp Ấn trên nên tôi tin chắc rằng kinh vu lan bồn là hoàn toàn ngụy tạo vì mục đích nào đó trong lịch sử. Anh có thể làm một bài luận về vấn đề mà tôi đưa ra sẽ thấy những điểm không tương đồng trong cách diễn giải của vu lan bồn với bất kỳ một bản kinh văn nào khác, chẳng hạn như Kinh Bát Đại Nhân Giác, hoặc Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên… Ta nhận thấy rằng trong tất cả các kinh văn do Ngài thuyết ra đều mang 3 yếu tính giác ngộ. Gọi là Xả Ly, Bồ Đề Tâm và Tánh Không. Rõ ràng vu lan bồn không hội đủ 3 yếu tính trên… và còn nhiều những vấn đề không đúng luật tắc nhân quả trong bản kinh văn này.
Tuy nhiên tôi không có ý định tham gia vào cuộc tranh luận này. Vì sao? Vì tất cả các CTV của tôi đã rút hết bài viết. Họ không muốn tham gia vì sự có mặt của anh trong vanhoaphatgiao. Mặc dù anh là một học giả có uy tín nhưng anh không tri hành tương ưng nên cuối cùng cái nói của anh không có giá trị. Bản thân tôi sau khi rút hết bài viết cộng tác thì đã bị khóa tài khoản. Tôi những tưởng tôi giống con nít 3 tuổi muốn cho thì cho và muốn lấy thì lấy. Thật là buồn cười!
Đồng thời, trong bài viết của anh tưởng như kỳ công nhưng có nhiều sơ hở. Tôi đã thông báo đến tác giả Đáo Bỉ Ngạn và sẽ có phản hồi trong vài ngày. Đành rằng anh là một học giả có tiếng tăm nhưng anh viết theo lối chủ quan như trên thì rất dễ để người khác bác bỏ luận điểm.
Vài dòng chân tình.
Tân Thanh

Từ: Nguyễn Minh Tiến <nguyenminh@rongmotamhon.net>
Ngày: 11:33 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: Nguyễn Phạm Tân Thanh <nguyenphamtanthanh@gmail.com>

Tân Thanh thân mến,
Khi Tân Thanh nghĩ “họ không nói láo đâu” thì tất nhiên đúng là họ nói thật. Nhất là khi đó là suy nghĩ của một học giả và hành giả.

Bản thân tôi không dám trèo cao, tôi không phải học giả hay hành giả gì cả, chỉ là một cư sĩ cố gắng làm theo lời dạy của Phật được chừng nào hay chừng ấy, và vì thế tôi chỉ suy nghĩ theo một chiều hướng rất đơn giản là: những gì liên quan đến sai sót trong bài viết của tôi, tôi xin rửa tai kính cẩn lắng nghe, bất kể người nói đúng hay sai; còn ngoài ra, mọi thông tin khác nữa e rằng đều đã đi sai địa chỉ.

Thân mến,
Nguyễn Minh Tiến

BBT Rộng mở tâm

Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <nguyenphamtanthanh@gmail.com>
Ngày: 11:36 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: nguyenminh@rongmotamhon.net
Tất nhiên là họ nói thật. Bởi tôi cũng đã có duyên gặp gỡ đạo sư Nguyên Thành, người đã bị anh găm tập bản thảo Pháp là Cuộc Sống theo quan kiến Mật giáo. Tôi vẫn còn chưa tin lắm nhưng một lần tình cờ hội ngộ Nguyễn Hữu Cứ thì mới hay sự thật ê chề. Và nghe đâu trong vụ nhà sách Quang Minh Hương Trang lừa gạt tác quyền, anh phải thân chinh cùng đoàn tùy tùng của Nguyễn Hữu Cứ đến xin lỗi và giao lại Support bản thảo cho tác giả Nguyên Thành mà!
Có lẽ hơi hướm mùi phong bì đang tỏa ngào ngạt đâu đây? Chính anh thừa nhận phải bận bịu “cày kiếm cơm” nuôi vợ và 2 con nhỏ thì làm gì có thời gian rảnh rỗi mà bỏ công từ thiện để viết một bài dài dằng dặc để tranh biện cùng Đáo Bỉ Ngạn.

Từ: Nguyễn Phạm Tân Thanh <nguyenphamtanthanh@gmail.com>
Ngày: 18:36 Ngày 09 tháng 11 năm 2012
Đến: nguyenminh@rongmotamhon.net

Ủa, sao anh không hồi âm nhỉ? Hóa ra nhờ vậy mà tôi hiểu vì sao anh đã gỡ comment mà bạn đọc đã phản hồi. Lẽ nào anh không “phân vạch đúng sai giúp độc giả” như lời anh viết. Chẳng lẽ quả thật anh nói làm khác nhau. Như vậy làm sao anh dạy “người Phật tử đọc kinh Phật như thế nào?” Tội lỗi, Tội lỗi…

Cầu nguyện đức Phật gia hộ cho sự thật được phơi bày ra ánh sáng. Cho những mặt nạ tâm thức sẽ rụng rơi như những chiếc lá cuối thu.”

(Hết trích)

Thưa ông Minh Tiến! Tôi thà chấp nhận là “học sinh tiểu học” mà như ông nói “viết sai một cách ngây ngô đến mức dễ thương” còn hơn là học giả như ông mà làm ra những hành vi thân ngữ tâm hết sức tầm thường như vậy. Thế mà sao trong bài phản hồi của mình, ông lại tự giới thiệu kinh nghiệm bản thân của mình tu tập tốt như thế nào, hưởng được ân sủng của Tam bảo ra sao, hiểu sâu kinh điển như thế nào…Thế mới biết, phần lớn người nghèo có được chút tài vật gì thì ưa khoe của, người giàu khôn ngoan thì thường tự bảo mình nghèo.

Thưa ông! Cho dù ông giàu về từ ngữ, giàu về học vấn, giàu về gia tài văn học, nhưng ông không có gia tài mà Phật nêu ra trong “thất thánh tài” là “giới đức, khiêm hạ, tàm, quý, trí huệ”.

3. Trong kinh Vu lan bồn Phật dạy “bày đủ cơm trăm vị, năm thứ trái cây, nước  rưới, bồn chậu, đồ dùng, thỏi hương dầu đốt, sàng phu ngọa cụ, thơm ngon nhất đời đựng trong bồn, cúng dường chúng Tăng đại đức mười phương”, không đúng với tinh thần “xả ly” của chư tăng, vốn được cho là cắt ái ly gia. Đức Phật dạy chư tăng đơn sơ với thực phẩm, đơn sơ với thuốc men, đơn sơ với chỗ ngủ nghỉ… Sao còn dạy cho cư sĩ tại gia bày biện cúng thí…  Họ thực hành đại hiếu là thực hành chánh pháp rồi tự khắc người thân cũng được ảnh hưởng tích cực. Hơn nữa, lượng cúng dường như vậy ở đây Phật không nói là “ít cũng được tùy theo hoàn cảnh”, như vậy có phải là Phật làm khó cho kẻ nghèo không? Do đó, ta thấy đạo hữu Minh Tiến suy luận đúng, nhưng kinh văn lại ngụy tạo nên sơ hở về phần nội dung biểu đạt.

Vả lại, theo kinh điển xác quyết một người tu đắc quả là bảy đời cha mẹ siêu thăng, thì tại sao ngài Mục Kiền Liên đã đắc thánh quả rồi mà mẹ còn ở cõi ngạ quỷ? Rõ ràng là kinh này là ngụy thư và “bất liễu nghĩa” mà Phật dạy chúng ta tuân theo “Tứ y cứ” trong đó “y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa”. Đức Phật quả là bậc toàn giác, biết trước con trùng trong thân sư tử sẽ hoàng hành sau 500 năm kể từ khi Ngài viên tịch.

Còn nhiều điểm sơ hở mang tính trầm trọng nữa mà khi đọc tụng kinh điển chúng ta nên tin hay không tin đều phải dùng cách thẩm định siêu phàm bằng “tứ pháp ấn” và “tứ y cứ”.

Thưa ông Minh Tiến và bạn đọc!

Viết đến đây là quá dài rồi, tôi còn một phần muốn viết về bút pháp “Nhạc Bất Quần” của ông Minh Tiến, luôn áp đặt và chấp thủ bằng những trận hỏa mù về mỹ từ, số liệu, pháp liệu, rào trước đón sau nhưng thực tế là phản ánh “cái tôi” của ông, trái với nhân cách của học giả Phật giáo là quán niệm vô ngã.

Có một điều oái ăm là ngay cả khi đã được làm rõ, kinh ngụy tạo vẫn chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như một sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa, xã hội bản địa Trung Quốc, Việt Nam. Do vậy, việc loại bỏ tính ngụy tạo trong loại kinh này không phải một sớm một chiều mà có kết quả. Phương chi những loại kinh ngụy tạo đề cao cúng dường trai tăng, nhờ chùa cầu siêu, cầu an, thì làm sao giới tăng lữ “xét lại” tích chân thật của kinh vu lan bồn, đại báo phụ mẫu trọng ân.

Hôm nay, tôi là Đáo Bỉ Ngạn, trước mười phương chư Phật và các chư Kim cang hộ pháp, đặc biệt là vị Đạo sư tôn quý của mình, xin thề nguyện:

Nhờ tinh thần của kinh Kalama soi sáng, qua lăng kính “tứ pháp ấn” của nhà Phật mà chiếu soi, qua luận giải bằng “ngũ lượng phương tiện biện giải” của đạo Phật, qua nghiên tầm giáo điển có chọn lọc, tôi khẳng định và thệ nguyện rằng:

         1. KINH “VU LAN BỒN”, “ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN” LÀ NGỤY THƯ, NẾU CHÚNG LÀ KINH CHÍNH THỐNG TỪ KIM KHẨU ĐỨC PHẬT, TÔI SẼ CHỊU CẮT LƯỠI DƯỚI ĐỊA NGỤC VÔ GIÁN, NGÀN TỶ NĂM KHÔNG THOÁT KHỎI.

        2. NẾU NHỮNG GÌ TÔI VIẾT LÀ SỰ THỰC ĐÚNG VỚI CHÂN LÝ ĐỨC PHẬT, TÔI CHỈ NGUYỆN XIN TẤT CẢ NHỮNG AI ĐANG CÓ NIỀM TIN VÀO NGỤY THƯ NÀY, SẼ ĐƯỢC CHUYỂN TÂM HỒI Ý.

           3. NGUYỆN CHO BẢN THÂN TÔI NOI GƯƠNG VỊ THẦY, TIẾP TỤC PHÁ BỎ TÀ KIẾN, DỰNG XÂY CHÁNH KIẾN NHÀ PHẬT TỪ ĐÂY CHO ĐẾN KHI GIÁC NGỘ TỐI THƯỢNG.

Ngày 12/11/2012

Đáo Bỉ Ngạn cẩn chí

Bài liên quan:

NGỘ NHẬN VỀ KINH VU LAN BỒN – Đáo Bỉ Ngạn

NGỤY THƯ “VU LAN BỒN” CÓ THỰC DO NHỮNG TAY NGỤY BÚT NÊN KHÔNG HỀ CÓ THỰC NGHĨA TỐI HẬU CỦA PHẬT PHÁP – Thầy Thinley Nguyên Thành – Mật Diệu Hằng

Thưa Thầy, con muốn nói đôi điều với Trần Thanh Cường “pháo nổ” về ngụy thư Vu lan bồn! – Mật Hạnh Giác

DỰA VÀO NGUYÊN TỐ THÔ MÀ XÁC QUYẾT YẾU TỐ TINH HOA ĐẠO PHÁP SAO? – Mật Kiên

MẬT HUỆ PHÁP TÁC PHÁP CHIẾU QUANG CHO CHÚC PHÚ, PHÁ LUẬN ĐIỂM NGHIÊN CỨU SAI LỆCH THỰC NGHĨA VỀ VU LAN BỒN. – Mật Huệ Pháp

MẬT HẠNH GIÁC CHỈ RA LỖI SAI CỦA CHÚC PHÚ VỀ HỌC THUẬT KHẢO CỨU NGỤY THƯ “VU LAN BỒN” – Mật Hạnh Giác

KHẢO CỨU VỀ NGUỒN GỐC KINH VU LAN BỒN : CHÚC PHÚ XÀO NẤU THÀNH MỘT NỒI LẪU HỌC THUẬT THẬP CẨM – Mật Diệu Hằng

MẬT HẢI TÁC PHÁP CHIẾU QUANG CHO CHÚC PHÚ VỀ MỘT LUẬN ĐIỂM “NÔ LỆ TÂM LINH” CỦA NGỤY THƯ VU LAN BỒN – Mật Hải

  1. Tâm Bình says:
    Kính bạch thầy và các đạo hữu,
    Sau khi đọc Kinh Vu Lan Bồn và Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, bản thân con dấy khởi một số nghi ngờ:
    1. Bồ tát Địa Tạng là bậc chánh giác, cớ gì ngài “rơi lệ bạch cùng Đức Phật”
    2. Kinh Vu Lan Bồn Phật dạy ngài Mục Kiền Liên bằng cách cúng dường chư tăng để chư tăng chú nguyện cứu bà Thanh Đề, tại sao Phật Thích Ca không dùng Phật lực cứu mẹ Mục Kiền Liên? Và nếu Đức Phật không can thiệp được nhân – quả, tại sao Bồ Tát Địa Tạng có thể phá tan địa ngục? Hơn nữa trong một số bài giảng, Hòa Thượng Tuyên Hóa có nói rằng Ngài Mục Kiền Liên chính là Địa Tạng Vương Bồ Tát???!!!
    Mong thầy và các đạo hữu giải nghi giúp con.
    Con xin chân thành cảm ơn.
    • Chánh Tri says:

      Trò diễn đạt không rõ ý, vui lòng viết rõ hơn!Thầy chỉ hồi đáp khi hiểu rõ khúc mắc gì ở câu hỏi.

    • Tâm Bình says:
      Thưa thầy con xin trình bày lại:
      1. Bồ Tát Địa Tạng là bậc chánh giác, cớ sao ngài có cử chỉ ưu sầu như một phàm phu trong phần kinh văn con trích ở trên.
      2. Nếu Kinh Vu Lan Bồn là thật, vì sao Phật dạy Mục Kiền Liên phải cúng dường chư tăng? Sao Phật không làm giúp? Con cho rằng Phật lực có sức lay chuyển tâm thức mạnh hơn.
      3. Trong một số kinh điển, Phật dạy “ta không ban phước, giáng họa cho ai” (xin lỗi con không nhớ trích trong phần kinh văn nào), nghĩa là Phật không can thiệp vào nhân quả, thế thì tại sao Bồ Tát Địa Tạng có thể cứu vớt chúng sanh tội khổ nơi địa ngục? Phải chăng Kinh Địa Tạng cũng giả nốt?
      4. Nếu chuyện MKL cứu mẹ trong Kinh Vu Lan Bồn là giả, và Hòa Thượng Tuyên Hóa có phản đối kinh văn này, tại sao trong một số bài giảng ngài ấy nói “Bồ Tát Địa Tạng chính là MKL”?
      Con cảm thấy thực sự phân vân. Con mong thầy giải đáp giúp. Con cảm ơn thầy.
      • Chánh Tri says:

        Cảm ơn trò đã hỏi hay, Thầy tin là trò hiểu thực chất vấn đề. Bây giờ, Trước tiên Thầy cung cấp cho trò thêm một pháp liệu để giải tỏa khúc mắc này là bài: ” Thế nào là kinh chính thống” trên trang mạng này. Sau đó Thầy sẽ đăng đàn.Thân chào.

      • Chánh Tri says:

        Đó, đó là vì sao Thầy viết “Ngộ nhận…”!

      • Tâm Bình says:
        Kính bạch thầy,
        Con đã đọc, bài pháp liệu rất tuyệt vời, nó giúp con phá tan những nghi hoặc bấy lâu.
        Con cảm ơn thầy và chờ đợi những bài viết mới trên chanhtuduy.com.
        • Chánh Tri says:

          Thầy mưng vì con đã hiểu.

        • Thu Lan says:
          Thưa Thầy,
          Theo chỗ sở học cạn cợt của con, mạn phép cho con “múa rìu qua mắt thợ” một chút.
          Gửi đạo hữu Tâm Bình:
          1. Kinh Địa Tạng trình bày các hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng khi ngài còn ở bậc nhân địa. Thông qua hình thức kể chuyện, mục tiêu giải thoát thể hiện rõ ở ba yếu tố “xả ly, bồ đề tâm, tánh không”. Cụ thể phương pháp tu tập ở đây là niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát và danh hiệu Bích Chi Phật. Giọt nước mắt của Mục Kiền Liên trong Kinh Vu Lan Bồn không thể sánh với giọt nước mắt của Bồ Tát Địa Tạng tại cung trời Đao Lợi được, vì Mục Kiền Liên khóc thương mỗi mẹ của mình, còn Bồ Tát Địa Tạng xót thương tất cả chúng sinh đang trầm luân trong biển khổ sinh tử, không biết khi nào thoát. Tư tưởng bồ tát đạo chính ở chỗ này.
          2. Kinh Vu Lan Bồn không dạy chúng sinh liễu thoát sinh tử, không thấy phương tiện tu tập nào trong bản kinh này. Nói cách khác, nếu y theo bản kinh này, chỉ có thể gọi là gieo chút duyên lành với Tam Bảo, tích lũy phước đức mà không có công đức.
          3.
          – Phật không thể can thiệp nhân quả cho nên ngài nói “ta không ban phước, giáng họa cho ai” (vì nếu có thể, mười phương chư Phật ba đời đâu lỡ nhìn chúng sinh chịu khổ đến tận bây giờ). Tuy nhiên Phật dạy chúng sinh con đường tu tập để đạt đến mục tiêu giải thoát. Ví dụ nếu gieo nhân niệm Phật thì quả sẽ là sinh về Cực Lạc Thế Giới. Nếu nhân này không chín muồi (không đủ tín, nguyện, hạnh) thì sẽ chẳng trổ quả được, mới có chuyện niệm Phật không thể vãng sanh Tây Phương.
          – Bồ Tát Địa Tạng cứu chúng sinh trong địa ngục nên hiểu là ngài sử dụng pháp phương tiện để giáo hóa, chuyển hóa tâm thức họ. Những kẻ không có căn lành, không thể chuyển đổi thì hàng ngàn vị Phật cũng bó tay chứ đừng nói gì đến 1 Bồ Tát Địa Tạng Vương (cho nên địa ngục vẫn tồn tại, các vị bồ tát vẫn miệt mài công cuộc độ sinh theo nguyện lực của mình).
          4. Hòa Thượng Tuyên Hóa cũng từng nói “ai học theo hạnh của Bồ Tát Quán Âm sẽ là một hóa thân của Bồ Tát Quán Âm, ai học theo hạnh của Bồ Tát Địa Tạng sẽ là một hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng”, vì thế không nên chấp thủ câu nói này của ngài.
          Vài lời chia sẻ gửi đến đạo hữu.
          Nếu chỗ nào không đúng con nhờ Thầy và các đạo huynh chỉnh sửa giúp.
          Nguyện cầu cho tất cả chúng sinh an trụ nơi chánh pháp.
          Om mani padme hum.
  2. thanh thúy says:
    Thưa thầy!
    Con đã đọc xông bài này rồi ạ con cầu mong sức khỏe và sự trường thọ của thầy cô
    Om ah hùm
  3. Mật Hạnh Giác says:
    Mô Phật!
    Kính Bạch Thầy, con đã đọc bài này ạ. Con xin tán thán bút pháp sắc bén và dũng mãnh của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Niềm tin sắt đá vào chân lý Đức Phật của tác giả Đáo Bỉ Ngạn thật khiến con cảm thấy tự hào khi được truyền trao Chánh Kiến nhà Phật từ vị Thầy tâm linh. Bài viết như một tiếng sư tử vương gầm lên trong khu rừng Tà Kiến đã làm mê mờ chúng sanh hàng ngàn năm qua. Tiếc thay, vẫn có những con “tinh tinh” vừa lùn vừa đen, giả mù, giả câm, giả điếc không nghe mà tiếp tục làm những “trò khỉ” để thỏa mãn dục vọng của chúng.
    Cầu nguyện cho chúng sanh tỉnh thức khỏi những mê lầm này mà tìm về với quỹ đạo Chánh Pháp, không đi “linh tinh” nữa.
    Cầu nguyện cho Ngọn Đuốc Chánh Pháp tỏa khắp muôn nơi.
    Cầu nguyện cho sức khỏe Thầy Cô vì lợi lạc và hạnh phúc chúng sanh.
    Om Ah Hum.
  4. Mật Phước says:
    Kính Bạch Thầy
    Con đã đọc bài này rồi ạ. Con xin tán thán thiện hạnh đối luận vươn cao ngọn cờ chánh kiến của tác giả Đáo Bỉ Ngạn theo Thánh giáo lượng của Phật đà. Theo sự nhận xét con thấy rằng, ông Nguyễn Minh Tiến tuy là một người mang danh học giả, dịch giả, kiến thức cao rộng,uyên bát nhưng đó cũng chỉ là kiến thức tầm thường của thế gian. Vì khi đối luận ông chỉ dùng kiến thức của mình nói vòng vo không đi sâu vào vấn đề đối luận, lại còn ngạo mạng và sẵn sàng hạ thấp người khác, nâng cao bản thân ông. Ông không nghiên cứu kỹ vấn đề mà nhấm bát thẳng phản hồi của người khác chỉ cổ suý cho lập luận một chiều của mình mà không có bất kỳ một luận chứng luận cứ nào, đức Phật dạy rằng “Này các ông, đừng tin vào tâm ý của mình. Tâm ý của mình không đáng tin cậy. Đừng tin vào tâm ý của mình khi chưa đắc Thánh quả” (kinh 42 chương). Đối với Trung Quốc cũng vì danh lợi (tham) họ có thể nguỵ tạo 550 nguỵ kinh thật là kinh khũng. Ông Nguyễn Minh tiến cũng vì chữ (tham ) mà sẵn sàng cỗ suý cho loai nguy kinh “Vu lan bồn” này của Trung Quốc, luật tắc nhân-quả sẽ không sai chạy cho hành vi này. Con cảm tạ ơn Thầy đã ban cho chúng con có được trạch pháp nhãn Phật đà để soi chiếu nguỵ kinh như “Vu lan bồn”…không bị những chiêu bài của bọn ác tri thức lợi dụng mà bản thân bị đoạ lạc luân hồi như lời dạy của Thánh tăng Thome Zangpo trong 37 pháp hành Bồ Tát đạo rằng “Liên hệ với ác tri thưc sẽ làm tam độc gia tăng trong khi ta đang học hỏi, suy tư và tu tập . Và họ sẽ làm tâm từ của chúng ta thối thất”.
    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô.
    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Ah Hum.
  5. Mật Diệu Hằng says:
    Kính bạch Thầy!
    Con vô cùng hoan hỷ tán thán công hạnh và tinh thần đả tà xây chánh không dừng mỏi của tác giả Đáo Bỉ Ngạn trong bài đối luận sâu sắc, được thể hiện bằng nhiều luận chứng, luận cứ theo đúng tinh thần tứ y cứ, tứ pháp ấn và ba tinh yếu giác ngộ, lột mặt nạ ngụy tạo của kinh Vu Lan Bồn mà anh bạn Trung Quốc đã truyền sang Việt Nam nhằm mục đích biến người Việt trở thành “nô lệ tâm linh”, chìm sâu trong bùn lầy tăm tối của tà kiến, mê tín dị đoan; tác giả Đáo Bỉ Ngạn thắp lên ngọn đuốc chánh pháp với ánh sáng tuệ tri Phật đà lan tỏa khắp muôn nơi, giúp bạn đọc hữu duyên lìa xa ta pháp, tu tập theo quỹ đạo chánh pháp, chấm dứt luân hồi sinh tử.
    Tinh thần hiếu đạo là nét đẹp truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Kinh Vu Lan Bồn đã lợi dụng truyền thống đó biến chữ hiếu của con người bị méo mó qua những lễ cúng mang đậm chất mê tín trong Lễ Vu Lan dịp rằm tháng bảy. Kinh Vu Lan Bồn hơn nữa còn tạo ra chiếc mặt mạ của kẻ đạo đức giả quanh năm suốt tháng đối xử với cha mẹ không ra gì, thậm chí còn chửi bới đánh đập song thân, làm tan nhà nát cửa, lại được dịp phô trương làm người con có hiếu bằng việc cúng tiến thật nhiều hàng mã và tổ chức sát sinh thật linh đình. Ngoài ra có nhiều lễ cúng, người chủ lễ vừa sát sinh lợn gà làm vật cúng tế, vừa chạy đôn chạy đáo tìm mua cua, cá ốc về phóng sinh để cầu lộc, cầu tài. Con không hiểu họ làm hai điều trái ngược nhau cùng một lúc, họ có dùng một chút tri thức để nhận định không? Vậy chánh tà nằm ở đâu? Hay nằm trên miệng của tà sư đội lốt tu hành, tổ chức lễ Vu Lan thật lớn, lôi kéo thật nhiều đồ chúng đến để trục lợi. Như vậy, việc báo hiếu có còn mang đúng giá trị không?
    Trong khi đó, trong kinh Tăng Nhất A – hàm, đức Phật có dạy một người con có hiếu phải làm những việc thiết thực trong đời sống hàng ngày đến khi cha mẹ nhắm mắt xuôi tay, như sau:
    “- Cung kính và vâng lời cha mẹ.
    – Phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu.
    – Giữ gìn thanh danh truyền thống gia đình.
    – Bảo vệ tài sản cha mẹ để lại.
    – Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời”
    Trong lời dạy của đức Phật, ngài không hề dạy bảo chúng sanh phải đốt vàng mã hay cúng lễ cho cha mẹ khi họ đã qua đời. Vậy kinh Vu Lan Bồn đưa ra câu chuyện ngài Mục Kiền Liên, một người đắc lục thông tức là có lậu tận thông thương mẹ và thỉnh cầu đức Phật để có được phương pháp nhờ các chư tăng đến cúng cứu giúp mẹ mình; từ đó tục lệ cúng cô hồn, tế lễ Vu Lan hằng năm diễn ra rầm rộ. Tục lệ này chắc chắn không phải là lời dạy của đức Phật.
    Thứ nữa, như tác giả Đáo Bỉ Ngạn đã phân tích, ngài Mục Kiền Liên đã đắc lục thông, đoạn trừ phiền não thì làm sao ngài Mục Kiền Liên lại có biểu hiện thường tình của một kẻ phàm phu như vậy? (Mục Kiền Liên nhớ mẹ, tỏ ra bi ai, đem cơm cho mẹ, mà sao chỉ mình mẹ thôi, còn chúng sanh khác thì sao? Lẽ nào ngài lại chấp thủ tình thân như vậy? Sau đó lại đau buồn gào khóc thảm thiết). Nên nhớ, luyến ái, bi ai mà ái sinh thủ, thủ sinh hữu…trái với quán niệm lý “Nhân duyên” mà bất kỳ vị A la hán nào cũng am tường và ứng dụng trong hành vi thân ngữ tâm. Và căn cứ theo tứ pháp ấn “Niết Bàn tịch tĩnh” thì kinh Vu Lan Bồn không phải do đức Phật thuyết giảng.
    Hành vi ngài Mục Kiền Liên được viết trong kinh Vu Lan Bồn nhớ mẹ, đem cơm cho mẹ và nhờ sự giúp đỡ của các vị cao tăng khác chỉ cứu giúp một mình mẹ của ngài là hoàn toàn sai với quỹ đạo chánh pháp. Bởi lẽ, khi chứng đắc ngài Mục Kiền Liên chắc chắn thấu triệt lý nhân duyên và ngài hiểu rõ rằng: “Vô thỉ là luân hồi. Này các tỳ kheo, không dễ gì tìm được một chúng sanh trong một thời gian dài này lại không một lần nào làm mẹ, làm cha”. (Kinh Trường Bộ) và “Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta. Bao nhiêu đời kiếp ta từ đó mà sanh ra , nên chúng sanh trong sáu đường là cha mẹ của ta cả”. (Kinh Tương Ưng).
    Căn cứ vào 3 tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và trí tuệ tánh không, kinh Vu Lan Bồn không đáp ứng được. Lễ Vu Lan tổ chức hàng năm không hướng chúng sanh tu tập giải thoát, không dựa trên 3 tinh yếu giác ngộ. Những bài cúng, lễ bái, đốt vàng mã cho cô hồn không giúp tâm chúng sanh hướng đến giải thoát tối thượng. Hơn nữa, kinh Vu Lan Bồn không hướng chúng sanh tu tập để được khai tuệ để nhìn thấy bản chất chân thật của sự vật hiện tượng mà buông bỏ ái ngã, tham ái và không giúp chúng sanh chuyển hóa tâm phàm phu thành tâm phật.
    Trong khi đó, trong kinh Đại Vân, đức Phật đã dạy rõ về việc báo hiếu cao cả nhất đối với một người con Phật là giúp cha mẹ có niềm tin vào Tam bảo và tu tập theo quỹ đạo chánh pháp: “Người nào muốn báo ơn nghĩa to lớn cả cha mẹ, không có cách nào hơn là phát tâm Bồ đề cầu giác ngộ, rồi tìm cách hướng dẫn người thân của mình và chúng sanh đồng phát tâm Bồ đề, đó là cách báo ân rốt ráo.” Theo lời đức Phật dạy, một người con đại hiếu, muốn báo ơn nghĩa to lớn của cha mẹ không phải là lên chùa đọc tụng kinh Vu Lan Bồn, cúng bái, đốt vàng mã vào rằm tháng 7 mà người con đó tu tập tầm cầu giác ngộ và tìm cách hướng dẫn cho cha mẹ tu tập theo quỹ đạo chánh pháp để cha mẹ thoát khỏi luân hồi sinh tử. Đó mới là cách báo hiếu rốt ráo nhất.
    Trong kinh Tương Ưng, đức Phật cũng chỉ rõ những việc cụ thể người con trợ duyên cho cha mẹ tu tập theo quỹ đạo chánh pháp cần phải làm: “người con hiếu thảo muốn báo đáp công ơn cha mẹ đúng chánh pháp cần phải thực hành những việc sau đây:
    – Nếu cha mẹ chưa có niềm tin, phải khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam bảo.
    – Nếu cha mẹ xan tham, phải khuyến khích cha mẹ phát tâm bố thí.
    – Nếu cha mẹ theo điều ác, phải khuyến khích cha mẹ hướng về đường thiện.
    – Nếu cha mẹ theo tà kiến, phải khuyến khích cha mẹ trở về với chánh kiến.
    Làm được như vậy là trả ơn cha mẹ đúng với chánh pháp, khiến cha mẹ không những được an vui trong hiện tại, mà còn gieo phước lành trong tương lai”.
    Người con thực hiện nghĩa vụ báo hiếu theo lời khai thị của Như Lai là khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam bảo, tin tưởng đức Phật, nương tựa vào Tam bảo. Bởi vì, trong kinh Công đức ruộng phước, đức Phật đã xác quyết: “Trong 96 thứ ngoại đạo, Phật pháp rất là chân thật; trong 96 loại Tăng, Tăng của Phật rất là chân chánh. Vì cớ sao? Bởi vì Như Lai từ vô số kiếp phát nguyện trung thực với sự thật, quên mạng sống để tích lũy phước đức, nguyện vì chúng sinh đem đất nước, tài sản vợ con, đầu mắt máu thịt, đều bố thí, không khởi tâm luyến tiếc. Tâm như hư không, tất cả các lời đều được che chở. Lục độ ( bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) và tứ đẳng tâm (từ, bi,hỷ,xả), các việc lành ta ban bố khắp, phước trí đầy đủ, liền được thành Phật, sắc thân màu vàng tía, tướng tốt không gì sánh bằng; quá khứ, vị lai, hiện tại, không đâu mà không thông suốt, tôn quý trong ba cõi, không ai có thể bì kịp; lời nói ra được mọi người tin theo, đạo đức thâm hậu, chấn động trời đất. Nếu có chúng sinh, một lần phát tâm thành kính hướng về Như Lai, công đức còn vượt hơn của báu bằng tam thiên đại thiên thế giới.”
    Ngoài ra, đức Phật cũng dạy người con cần khuyến khích cha mẹ bố thí cúng dường và thực hành những việc thiện, nhưng phải lìa bỏ tà kiến. Do vậy, cúng dường ở đây là cúng dường các bậc cao tăng thạc đức, những vị tu hành chân chính, và đường thiện ở đây là mười hoạt động tâm linh, lục độ ba la mật, thực hành pháp theo đúng quỹ đạo chánh pháp nhằm giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.
    Do vậy, khi dạy mọi người về việc trả hiếu cho cha mẹ, Hòa thượng Tuyên Hóa cũng không hề nhắc đến việc tụng kinh Vu Lan Bồn hay cúng bái, lễ lạy trong dịp rằm tháng 7. Ngài khuyên người con nên thực hiện 4 loại hiếu sau đây:
    1/ Cận hiếu là khi chăm lo phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, ốm đau
    2/ Viễn hiếu là khi hiếu thuận chẳng những với cha mẹ mình mà còn cha mẹ bằng hữu mình, hoặc của người khác.
    3/ Tiểu hiếu là khi sống cuộc đời lương thiện, không làm những gì gây ô nhục gia đình, ảnh hưởng đến thanh danh cha mẹ.
    4/ Khuyên cha mẹ tu hành đạo Phật để họ chuẩn bị tốt cho cuộc sống tái sanh kiếp sau. Đó là đại hiếu.
    Như vậy, kinh Vu Lan Bồn đúng như tác giả Đáo Bỉ Ngạn đã xác quyết: đó chính là ngụy kinh mà người Trung Quốc đã ngụy tạo ra và dùng bức bình phong “trả hiếu” để biến người dân Việt Nam trở thành “nô lệ tâm linh”, gieo rắc tà kiến rồi lại mãi trôi lăn cùng luân hồi sinh tử. Việc những tà sư, ác ma đội lốt tu hành tạo ra và lưu hành kinh Vu Lan Bồn trong dân chúng rất nguy hiểm, làm cho Phật tử lạc lối vào ngã rẽ luân hồi, thậm chí là vào ba cõi dữ. Những tà sư và ác ma này sẽ nhận lãnh hậu quả tương ưng, như lời khai thị của đức Phật trong kinh Pháp Diệt Tận: “Khi mạng căn của các ma ác tỷ-khưu này chấm dứt, thần thức của họ liền đọa vào địa ngục A-tỳ. Đã phạm phải 5 tội trọng, nên họ phải tái sinh liên tục chịu khổ trong loài quỷ đói và súc sinh. Họ sẽ nếm những nỗi thống khổ trong vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng. Khi tội hết, họ sẽ tái sinh ở những vùng biên địa, nơi không có Tam bảo lưu hành.” Do vậy, việc ông Nguyễn Minh Tiến bảo vệ kinh Vu Lan Bồn và không nhìn thấy rõ sự ngụy tạo của bản kinh đó cũng sẽ phải chịu hậu quả khôn lường vì góp phần gieo rắc tà kiến cho chúng sanh.
    Con xin tán thán tinh thần và công hạnh đả tà xây chính của tác giả Đáo Bỉ Ngạn trong bài viết này. Những người Phật tử chân chính, dũng cảm giương cao ngọn cờ bảo vệ chánh pháp, đả phá tà kiến như tác giả Đáo Bỉ Ngạn sẽ góp phần giúp chánh pháp của đức Thế Tôn trường tồn, mang lại lợi lạc cho chúng sanh hữu tình bỏ mê về giác.
    Con thành tâm cầu nguyện cho tác giả Đáo Bỉ Ngạn khỏe mạnh và trường thọ để giúp chúng sanh vô minh lìa tà về chánh để có được sự an nhiên tự tại trong đời này và cực lạc ở kiếp sau.
    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum.
  6. Ngô Minh Đức says:
    Thật không ngờ một dịch giả nổi tiếng như ông Nguyễn Minh Tiến lại chẳng đáng mặt trượng phu, phải dùng cách tặng quà riêng cho vợ sếp để tiến thân. Trái sầu riêng tặng quan bà không biết có vừa lòng quan ông? Vợ ông liệu có phải đi tặng quà sếp của ông để nhận được những bản kinh, quyển sách với dấu đỏ, thư uỷ quyền để soạn dịch hay không đây? Mong rằng nhiều bạn đọc, những Phật tử chân chính sẽ tiếp cận bài viết này và không còn ngộ nhận về kinh Vu lan bồn cũng như bản thân ông Nguyễn Minh Tiến.
    Cám ơn admin đã đăng tải bài viết của tác giả Đáo Bỉ Ngạn!
  7. Mật Thanh Tâm says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này rồi ạ.
    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum.
  8. Mật Thiệu says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc xong bài này rồi thưa Thầy!Qua bài này con biết được kinh Vu Lan Bồn là giả,là ngụy kinh của Trung Quốc.Con xin tán thán thiện của tác giả Đáo Bỉ Ngạn trong công cuộc đã tà xây chánh.
    Con thành tâm cầu nguyện cho Thầy,Cô được nhiều sức khỏe và trường thọ vì sự nghiệp giáo hóa chúng sanh.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thấm đẫm hồng ân Tam Bảo.
    Cầu mong ngọn đuốc trí tuệ được thắp sáng muôn nơi.
    Om mani padme hum.
  9. Do Ngoc Hoa says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài này rồi ạ.
    Qua bài này con đã được biết Kinh Vu Lan Bồn là ngụy kinh của Trung Quốc. Con xin tán thán thiện tâm đả tà xây chánh của tác giả Đáo Bỉ Ngạn.

    Kính Thầy.

  10. Mật Nhuận Quang says:
    Kính bạch Thầy!

    Con vô cùng hoan hỷ tán thán công hạnh đả tả xây chánh không ngừng nghỉ qua bài bài đối luận rất sâu sắc của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Tác giả đã đưa ra các luận chứng, luận cứ theo tinh thần tứ y cứ, tứ pháp ấn và ba yếu tính giác ngộ (nguyên tắc thẩm định kinh theo lời dạy của Đức Phật) đã chứng minh được rằng kinh “Vu Lan Bồn” và kinh “Đại báo phụ mẫu trọng ân” là nguỵ kinh. Cảm ơn tác giả với bài đối luận vô cùng lợi lạc.

    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sinh.
    Cầu nguyện tất cả chúng sinh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum.

  11. Mật Nghiêm Giác (Đoàn Nghĩa) says:
    Kính bạch Thầy
    Con đã đọc bài này rồi ạ
    Con cầu nguyện Thầy Cô sức khỏe và trường thọ vị lợi lạc chúng sinh
    Om mani padme hum
  12. Phạm Hoàng Huy says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc xong bài này rồi thưa Thầy.
  13. Cao Cẩm Hồng says:
    Kính Bạch Thầy con Đã đọc bài này rồi ạ con Cảm tạ Bài viết của thầy.OM Mani Padme hút
  14. Mật Đan says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài viết này rồi ạ. Con vô cung hoan hỷ và tán thán tinh thần đả tà xây chánh của tác giả Đáo Bỉ Ngạn qua nhiều luận chứng, luận cứ rất sâu sắc trong bài đối luận này.
    Con cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy Cô.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu niềm hạnh phúc Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum.
  15. Đoàn Việt Huyền says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này rồi ạh.
    Om Mani Padme Hum.
  16. Mật Chánh Hoa says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này rồi ạ. Con hiểu ra rằng Kinh Vu lan bồn là giả là nguỵ kinh của Trung Quốc nơi có kho tàng kinh giả hơn 500 kinh.
    Con cảm tạ ơn Thầy đã đăng bài của tác giả Đáo Bỉ Ngạn để con và bạn đọc hiểu rõ hơn về nguỵ kinh Vu lan bồn. Và cảm ơn bài viết rất lợi lạc của tác giả Đáo Bỉ Ngạn.
    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc chúng sanh!
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ!
    Om Mani Padme Hum
  17. Mật Tuệ Phúc says:
    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài này. Con sẽ dành thời gian để đọc lại nhằm hiểu sâu hơn những ý tứ trong bài. Con cảm ơn Thầy đã khai thị cho chúng con với tấm lòng bi mẫn.
  18. Mật Tấn Khải ( Trần Q Toản ) says:
    Kính Bạch Thầy
    Con đã đọc bài này rồi ạ .
    Con Cảm Tạ Ơn Thầy.
    Cầu Nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy vì lợi lạc của chúng sanh
    Cầu nguyện cho mọi chúng sinh,thành tựu niềm hạnh phúc của Phật tánh
  19. Mật Đức says:
    Kính Bạch Thầy
    Con đã đọc bài này rồi thưa Thầy.
    Con xin tán thán với công hạnh của tác giả Đáo Bỉ Ngạn đã vạch trần sự thật về kinh Vu Lan Bồn lại thêm một sản phẩm giả tạo của người Trung Quốc.
    Con xin cảm tạ ơn Thầy đã từ bi trang bị cho chúng có được trạch pháp nhãn có thể phân biệt chánh tà, thực giả khi ở cõi ta bà đầy rẫy tà sư và thực giả lẫn lộn.
    Con xin cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu mong cho ánh sáng chánh pháp được soi sáng khắp muôn nơi.
    OM Ah Hum
  20. Mật Ngữ says:
    Kính bạch Thầy.
    Con đã đọc bài này rồi ạ .
    Con hoan hỷ, tán thán công hạnh của đã tà xây chánh của tác giả Đáo Bỉ Ngạn.
    Cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu mong tất cả chúng sanh uống được tinh tuý cam lồ.
    Om Mani Padme Hum.
  21. Mật Ngã says:
    Kính bạch Thầy!
    Con hoan hỷ tán thán công hạnh của tác giả Đáo Bỉ Ngạn mà hàng ngàn năm nay chưa ai dám làm.
    Con chợt nghĩ mục đích khi Đức Phật trước đây rời khỏi hoàng cung ra đi tìm chân lý, con đường giải thoát là vì chúng sanh. Trong 49 năm hoàng dương chánh pháp Ngài cũng không ngoài mục đích vì chúng sanh. Nhưng Vu lan bồn, nếu Phật chấp nhận Mục kiền Liên lập đàn tràng cứu mẹ…, dạy các đệ tử làm như thế, báo hiếu cho cha mẹ… thì lộ rõ Đức Phật “tiền hậu bất nhất”, “tri hành bất hợp” vì những việc đó không vì chúng sanh mà chỉ cá nhân, không “phụng sự” chúng sanh mà phụng sự người thân… điểm dễ thấy nhất về sự khác nhau giữa Phật với Ma là : Ma là tà tức nói một đường hành động một nẻo tức “tri hành bất nhất”… còn Phật là chánh nên “tri hành hợp nhất”. Vậy nếu ai tin Vu lan bồn là thật do Phật thuyết thì cũng ngầm nói rằng Ngài là Ma chứ không phải là Phật. Càng ngẫm càng thấy Vu lan bồn thật tay hại, càng đọc tụng thực hành theo càng mất phước quả là không sai.
    Cầu nguyện cho ngày càng có nhiều người đọc được bài viết này và hồi tâm chuyển ý không tin vào ngụy thư Vu lan bồn nữa. Om Ah Hum!
  22. Mật Phước says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con xin tán thán bài viết đã tà xây chánh của tác giả Đáo Ngạn.
    Thật tại hại nếu như chúng sanh không nhận ra được thực chất của ngụy thư ” Vu lan bồn” là loại độc hại tà kiến,cứ mãi hành theo trong niềm tin mù quán kiểu nô lệ tâm linh, sẽ phải bị hũy hoại huệ mạng thân căn trong nhiều kiếp thật tai hại vô cùng.
    Vu lan bồn ” là ngụy thư mà Trung Quốc tạo ra nhằm cũng cố của biên chế giường cột phong kiến vốn lấy hiếu đạo làm đầu. Con thật kinh tỏm với sư giả tạo của người Trung Quốc về mọi mặt trong đó với 550 kinh giả , nếu sử dụng quả thực không thể tưởng tượng hậu quả đến cỡ nào nữa. Gần đây nhất là sự ngụy tạo đường lưởi bò ở biển đông hậu quả là đang căng thẳng gây hấn chiến tranh .
    Đã từ lâu kinh ” vu lan bồn” ngụy tạo này đem đến không ít lợi ích từ việc thí chủ cúng dường nên các chùa khó mà chấp nhận và ông Nguyễn cũng khó mà chấp nhận vì đây cũng la cách ông cày kiếm cơm.
    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô.
    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng Thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum.
  23. Mật Thủy says:
    Kính bạch Thầy!
    Mùa tháng 7 âm lịch nào cũng như một thói quen, người ta lại hay hỏi nhau có ăn chay nguyên tháng không, có lên chùa làm công quả, cúng kiếng, đi chùa mùa vu lan báo hiếu không? Con chạnh lòng cho họ, tựa như cảm giác thấy và biết người ta đang dùng phải hàng giả và đang bị hàng giả ấy gây tổn hại đến sức khỏe tâm linh mà không hề hay biết. Và các chùa, những nơi vẫn tiếp tục tổ chức lễ vu lan báo hiếu hàng năm đồng nghĩa vẫn còn đang “tuyên truyền, phổ biến” “hàng giả” độc hại. Vì sức khỏe tâm linh của chúng sanh, Mật gia Song Nguyễn đã và đang cố gắng trong cuộc chiến chống “hàng giả” (đả phá tà kiến, dựng xây chánh kiến), dù “hàng giả” vẫn còn nhan nhản, nhưng không vì thế mà đành im lặng, mặc kệ vận mệnh tâm linh của chúng sanh. Con hoan hỷ với công hạnh của Thầy và tác giả Đáo Bỉ Ngạn! Con thành tâm cầu nguyện cho bài viết này cũng như những lời khẳng định “Kinh vu lan bồn là ngụy tạo” của vị Thầy, đạo sư Mật giáo, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng, chủ nhiệm câu lạc bộ Unesco Khảo cứu và ứng dụng Yoga Tây Tạng sẽ cảnh tỉnh chúng sanh để họ kịp thời nhận ra, thẳng tay bài trừ “hàng giả” để tự bảo vệ lấy vận mệnh tâm linh của chính mình!
  24. thanh thúy says:
    Thưa thầy!
    Con đa đọc xong bài này rồi ah
    Con cầu nguyện cho súc khỏe và sự trường thọ của thầy cô vì lợi lạc cua chúng sanh
    Om ah hùm
  25. Nguyễn vân diệulinh says:
    Kính bạch Thầy. CON đã đọc xong bài viết này rồi thưa Thầy, con vô cùng hoan hỷ trước bài viết vô cùng sâu sắc của tác giả ĐÁO BỈ NGẠN ạ,con xin kính chúc sức khỏe của THẦY CÔ mãi mãi trường thọ vì lợi lạc của mọi chúng sanh, con xin nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều đạt được hạnh phúc Phật tánh. A Di Đà Phật. OM MA NI PADME HUM
  26. Mật Hoàng Tâm says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc xong bài này rồi ạ.

    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc của chúng sanh.

    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum!

  27. Mật Linh Nguyên says:
    Kính bạch Thầy !
    Không nói hết được sự kinh ngạc và vỡ lẽ của con khi được đọc, học bài Pháp này, chúng con vì trí u mê, lại không có chính pháp soi sáng dẫn đến mê lầm không biết phân biệt chánh tà, chân ngụy. Mấy ngàn năm qua, chúng sinh ngu si không hiểu đã đành, người tu hành tuy biết phân biệt nhưng mang tâm Ma thờ Phật, ngụy tạo kinh văn, hủy báng chánh pháp, biết sai mà giấu kín … dẫn dắt chúng sinh vào sâu trong vô minh, tà kiến.
    Sự tổn hại về vật chất dẫu vô cùng , nhưng cũng không hiểm nguy bằng việc gieo trồng vào nhận thức của chúng sinh những tà kiến mê tín, người trước đầu độc cho người sau dắt díu nhau làm thành một truyền thống đầy lầm lạc, để ngu mà nghĩ mình là hiếu là trung … làm tay sai cho quyền lực và ma quỷ. Hơn thế nữa, niềm tin vô minh này đã dẫn đến ngộ nhận về chánh pháp, khiến cho biết bao nhiêu chúng sinh mất cơ hội giải thoát, làm cho gường mối Đạo bị lung lay nơi nhận thức của mỗi người.

    Học Phật pháp bài 4
    Qua bài pháp này con nhận thức được như sau:

    A. Báo hiếu:

    1. Thực hành việc báo hiếu theo Kinh Tăng Nhất A hàm :
    Cung kính và vâng lời cha mẹ
    Phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu
    Giữ gìn thanh danh truyền thống gia đình
    Bảo vệ tài sản cha mẹ để lại
    Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời

    2. Trợ duyên cho cha mẹ tu hành Phật pháp theo Kinh Tương Ưng:
    Nếu cha mẹ chưa có niềm tin phải khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam Bảo
    Nếu cha mẹ sân tham phải khuyên cha mẹ phát tâm bố thí
    Nếu cha mẹ làm điều ác phải khuyên cha mẹ hành thiện
    Nếu cha mẹ theo tà kiến phải khuyên cha mẹ trở về với chánh kiến

    Trong đó Hiếu phải được hiểu:
    Cận hiếu: Khuyên cha mẹ làm lành lánh dữ, chăm sóc phụng dưỡng giúp đỡ cha mẹ
    Viễn hiếu: Không những hiếu với cha mẹ mình còn phải hiếu với cha mẹ bạn, người khác
    Tiểu hiếu: Sống đời lương thiện, không làm việc gây ô nhục cho gia đình cha mẹ
    Đại hiếu: Khuyên cha mẹ tu hành Phật pháp, trợ duyên cho cha mẹ tu hành để an lạc đời này, giải thoát đời sau
    Thực hành những điều này khi cha mẹ còn sống và 49 ngày sau khi mất. Sau đó tránh việc tổ chức giỗ kỵ theo tà kiến, mê tín, gây tốn kém vật chất và tổn thương tâm linh

    B. Chánh kiến:
    Để có trí tuệ phân biệt chân ngụy ( Kinh) hành giả nhất thiết phải hiểu ba tinh yếu Giác ngộ : Xả Ly – Bồ đề tâm – Tánh Không. Cần phải thực hành dựa vào nền tảng:
    1.Nội minh, nhân minh
    2. Dựa vào khế kinh ( khế cơ và khế lý)
    3. Tứ pháp ấn:
    Chư hành vô thường (Mọi hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường)
    Chư pháp vô ngã (Mọi hiện tượng đều là không và không tự có)
    Thọ thì bất tịnh (Mọi hiện tượng ô nhiễm đều là khổ)
    Niết bàn tịch tĩnh (Niết bàn là an lạc chân chính )
    4. Ngũ lượng phương tiện biện giải:
    Hiện lượng ( đo lương
    Tỷ lượng ( so sánh)
    Thánh giáo lượng ( nương theo lời bậc thánh mà quán xét, không tin vào tâm ý của mình và những người chưa giác ngộ)
    Thí dụ lượng ( biểu thị bằng ví dụ)
    Thần thông lượng ( nương vào cái thấy biết của bậc thánh)
    5. Tứ y cứ :
    Y pháp bất y nhân
    Y nghĩa bất y ngữ
    Y trí bất y thức
    Y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa

    Qua bài pháp này, càng cho con vững niềm tin vào Chánh pháp. Tạ ân Thầy đã mang tuệ kiến soi sáng , con cảm mộ tán thán dũng tâm và công đức của tiên sinh Đáo Bỉ Ngạn cũng như đạo hữu Nguyễn Phạm Tân Thanh đã kiên quyết không khoan nhượng với những tà sư, tà đạo cũng như những thệ nguyện sâu rộng mà vạch trần ngụy kinh đã được che dấu nhiều ngàn năm dưới chiêu bài “ Hiếu “ bằng tinh thần đả tà xây chánh, mang lại nhiều lợi lạc cho chúng sinh. Qua đây chúng cho chúng con hiểu thêm một chân lý “ Thực hành chánh pháp không bao giờ thất bại”

    Nguyện cho đau khổ của chúng sinh được lắng dịu
    Nguyện Thầy cô và quyến thuộc cùng chư Kim cang hữu gia đình Mật Gia Song Nguyễn sức khỏe và an lạc trong hồng ân Tam Bảo

    Con đảnh lễ !

  28. Mật Tuyết Lan says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc xong bài viết này,
    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe của thầy, cô luôn trường thọ.
    Om Mani Padme Hum.
  29. Thy thy says:
    Kính bạch thầy
    Con đã đọc bài này rồi ạ..con rất hoan hỷ khi đọc bài, qua bài này con hiểu rõ hơn về ngày Vu lan báo hiếu thật sự không như nhũng gì con nghĩ trước đây, con như được mỡ mang hơn và may mắn là không bị những lừa dối để rồi tin vào những diều phi lý
    Con xin cầu nguyện cho sức khoẻ Thầy,Cô luôn trường thọ!!!
  30. Nguyễn Tấn Lợi says:
    Kính bạch thầy!

    con đã đọc xong bài này rồi ạ!.

    con hoan hỉ với chỉ dạy của Thầy và Thầy cho con thấy được sự nguy hiểm của nguỵ thư ‘VU LAN BỒN”, con được khai thị qua bài “ngộ nhận về kinh VU LAN BỒN”  một cách thấu đáo và con nguyện luôn theo con đường chánh kiến nhà Phật.

    con xin cầu nguyện sức khoẻ Thầy,Cô luôn trường thọ vì lợi lạc của chúng sanh.

    om mani padme hum.

     

  31. Trịnh Hải My says:
    Kính bạch Thầy,
    Con đã đọc bài viết rồi ạ.
  32. Vũ Thị Thu says:

    Kính bạch Thầy

    Con là Mật Thuận Nguyên con đã đọc xong bài này rồi ạ. Cầu nguyện Thầy Cô sức khoẻ và trường thọ. Cầu nguyện chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om mani padme hum

  33. mật huyền tâm says:
    Kính Bạch Thầy

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ

    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh

    Om Mani Padme Hum

  34. Mật Như Phong says:
    Kính Bạch Thầy

    Con Mật Như Phong đã đọc xong bài viết này rồi ạ.

    Con vô cùng hoan hỷ tán thán công hạnh đả tà xây chánh không ngừng qua bài đối luận sâu sắc của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Tác giả đưa ra các luận cứ luận chứng đã chứng minh được rằng ” Vu Lan Bồn ” và ” Kinh báo phụ mẫu trọng ân ” là ngụy kinh.

    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đạt thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  35. Phạm Phương says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ.

    Con xin cảm tạ công đức Thầy .

    Con xin cầu nguyền Thầy sức khỏe và trường thọ ạ.

  36. Mật Giác Vân says:
    Kính bạch Thầy!

    Con Mật Giác Vân đã đọc bài ” Ngộ nhận về kinh vu lan bồn” này rồi ạ.

    Tháng 7 âm lịch năm nào cũng như một thói quen, mọi người từ người già đến trẻ nhỏ đều bảo nhau lên chùa làm công quả, cúng kiếng, đi chùa mùa vu lan báo hiếu. Bản thân con trước đây cũng vậy, mỗi mùa vu lan tới là con lo lắng, lo từ việc sắm đồ cúng đến việc mời thầy cúng. Nhưng giờ đây khi con được biết đến chanhtuduy  con đã hiểu được “Vu lan bồn ” là ngụy thư mà Trung Quốc tạo ra nhằm củng cố của biên chế giường cột phong kiến vốn lấy hiếu đạo làm đầu. Và các chùa, những nơi vẫn tiếp tục tổ chức lễ vu lan báo hiếu hàng năm đồng nghĩa vẫn còn đang “tuyên truyền, phổ biến” “hàng giả” độc hại. Vì sức khỏe tâm linh của chúng sanh, Mật gia Song Nguyễn đã và đang cố gắng trong cuộc chiến chống “hàng giả” (đả phá tà kiến, dựng xây chánh kiến), dù “hàng giả” vẫn còn nhan nhản, nhưng không vì thế mà đành im lặng, mặc kệ vận mệnh tâm linh của chúng sanh. Con hoan hỷ với công hạnh của Thầy !

    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho tất thảy chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om mani padme hum.

  37. Mật Thủy Hiền says:
    Kính bạch Thầy

    Con hoan hỷ khi đọc xong bài viết rồi ạ.

    Con xin tán thán thiện hạnh đối luận vươn cao ngọn cờ chánh kiến của tác giả Đáo Bỉ Ngạn theo Thánh giáo lượng của Phật đà. Tinh thần đạo hiếu là nét đẹp truyền thống ” uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Kinh Vu Lan Bồn đã lợi dụng truyền thống đó biến chữ ” Hiếu” trở nên méo mó, xấu xí bằng những lễ vật đậm chất mê tín trong Lễ Vu Lan. Kinh Vu Lan Bồn hơn nữa còn là công cụ cho một số kẻ đạo đức giả , lúc cha mẹ còn sống thì đánh đập, chửi bới, bỏ mặc cha mẹ lúc ốm đau, bệnh tật, song lại cúng rất nhiều vàng mã, nhà lầu, xe hơi khi cha mẹ mất để ” báo hiếu”.

    Con cảm thấy mình thật may mắn khi biết tới chanhtuduy.com, được là thành viên của vườn hoa đạo pháp, con cảm tạ ơn Thầy.

    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi ích chúng sanh

    Om mani padme hum

     

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status