Oct 11, 2017

Posted by in Giáo điển | 3 Comments

Những điều cần xét lại về tính học thuật và tiêu chí Phật pháp từ quyển sách mới của thượng tọa Thích Nhật Từ “Đạo Phật Pháp môn, Đạo Phật Nguyên chất”: LỖ HỔNG CỦA TƯ DUY HAY LÀ HẬU QUẢ CỦA KẺ QUA CẦU RÚT VÁN (Bài 3)

Những điều cần xét lại về tính học thuật và tiêu chí Phật pháp từ quyển sách mới của thượng tọa Thích Nhật Từ “Đạo Phật Pháp môn, Đạo Phật Nguyên chất”: LỖ HỔNG CỦA TƯ DUY HAY LÀ HẬU QUẢ CỦA KẺ QUA CẦU RÚT VÁN (Bài 3)

Những điều cần xét lại về tính học thuật và tiêu chí Phật pháp từ quyển sách mới của thượng tọa Thích Nhật Từ “Đạo Phật Pháp môn, Đạo Phật Nguyên chất”:

Bài 3

LỖ HỔNG CỦA TƯ DUY HAY LÀ HẬU QUẢ CỦA KẺ QUA CẦU RÚT VÁN

“ Nếu rời trạch pháp sẽ không có phương tiện nào thù thắng để diệt trừ

mê hoặc (kleśa); mê hoặc thường khiến cho chúng sinh trôi nổi trong biển

lớn của sinh tử. Vì lẽ này xin truyền lại lời Phật thuyết về Đối Pháp ở trên để

giúp chúng sinh có thể đắc được trạch pháp”

( A tỳ đạt ma câu xá luận – Thiên Thân Bồ tát)

Tôi tự hỏi rằng con đường mà Đức Phật đã trải nghiệm và chứng thực có phải là con đường chỉ nằm trong kinh điển và trong các bài giảng hay sách của các tu sĩ đạo Phật. Hoàn toàn không ! Chắc chắn là như thế ! Nếu không phải vậy tại sao trên ngôi cửu trùng Võ Hoàng đế  Tắc Thiên đã phải thốt lên:

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì

Nguyện giải Như lai chân thiệt nghĩa

(Kệ khai Kinh)

Cũng  trong cùng  một niềm cung khiêm nhuận hạ,  bậc Điều ngự giác hoàng Trần Nhân tông đã phải bày tỏ:

Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay; 
Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.

(Đệ bát hội)

Và trong 20 thế kỷ qua trên thế giới này số người có được hạnh phúc khi đi trên con đường quang minh của Đức Từ Phụ nhiều như cát sông Hằng …

Thế thì tại sao trên mảnh đất này con đường của Đức Từ Phụ đã trải đến từ những thuở sơ đầu Lý ,Trần … mà từ đó đi vào ngõ ngách đời dân… Cho đến nay  tầng lớp tăng lữ, giảng sư đông đảo tương ứng với số chùa chiền tự viện mọc lên lớp lớp, thì lại có một thực trạng  tín ngưỡng dị đoan và những hủ tục về tâm linh luôn bên cạnh so kè?  Điều đặc biệt là ngay trong hàng Phật tử vẫn song song tồn tại  Đạo Phật và tín ngưỡng, và hiện nay nở rộ trong đời sống những hình ảnh phi Phật Đạo là những người con Phật vẫn từng ngày quỳ gối khom lưng van vái Quỷ – Thần.

Tự hỏi bức tranh tối màu này từ đâu mà ra?

Dĩ nhiên người Phật tử khi còn tìm đến sự nương tựa nơi Thiên – Thần – Quỷ – Vật là do trong tâm của họ chưa qua được cơn sợ hãi. Cũng lạ thật! Đã là người con Phật, con của Đấng Chiến Thắng thì sao lại còn sợ hãi ? Chắc chắn là trong tâm của họ còn vướng mắc.

Vướng ở đâu?

1/ Lỗ hổng của tư duy

Lại phải truy ngược về ngọn nguồn nỗi sợ của họ. Họ sợ gì . Sợ khổ. Những khổ nào? Sinh lao bệnh tử khổ – Cầu bất đắc khổ – Ngũ ấm xí thạnh khổ – Ái biệt ly khổ – Oán tằng hội khổ. Tựu trung : Vô minh khổ.

Nhưng! Những nỗi khổ này không phải đã được Đức Phật  minh triết trong Tứ Diệu đế rồi đấy sao và con đường 8 ngành Ngài cũng đã từ bi soi tỏ cho chúng sinh vượt khổ.

Vậy tại sao họ còn sợ hãi khi đã  quy y Phật (giác)– Pháp (chánh)– Tăng (tịnh)

Đến giờ khi đọc chương 3 của sách tiến sĩ TNT :  Chánh niệm – Nền tảng các pháp môn (Giảng tại Trường hạ Tịnh xá Trung Tâm – ngày 14/08/2009) tôi mới hiểu được ngọn nguồn vì sao nỗi sợ của người Phật tử mãi không dứt. Đó là bởi họ tiếp cận với con đường của Phật bằng một lối đi  sai khác và rất đỗi vòng vèo. Vốn dĩ họ đã bắt đầu “Tà”  bởi những vị “thầy” tu như này. Dĩ nhiên không phải là tất cả, nhưng cứ thử nhìn các lễ hội, và những việc các “thầy”, các chùa hiện đang làm : cúng sao giải hạn, lễ cầu thi cử, thăng chức, thậm chí di cung hoán số co đến các dịch vụ xem ngày, tướng số, xin xăm, phong thủy …Thì có thể thấy được các “thầy” đã làm sai lệch giáo pháp, tùy tiện tráo pháp “theo tâm ý mình” (_Kinh Bát đại nhân giác) … mới làm ra nông nỗi này.

Ngay trong lời đầu bài giảng này ts TNT với động cơ “tin vào tâm ý mình ” đã lệch pha với quỹ đạo chánh pháp trong “luận kiến” của mình:

Trong Bát chánh đạo, thứ nhất bao gồm chánh kiến và chánh tinh tấn, sau đó là chánh niệm. Khi có mặt của chánh niệm thì sự phát ngôn của chủ thể nhận thức bao giờ cũng là ngôn ngữ từ ái, hòa hợp, văn hóa và lợi lạc. Khi có chánh niệm đi đầu thì các hành động của thân sẽ không bao giờ rơi vào sát sanh, trộm cướp và tà hạnh, tránh được tất cả các tai nạn lao động, tai nạn giao thông. Sự đạo diễn của chánh niệm sẽ giúp cho nghề nghiệp bao giờ cũng là hợp pháp, hợp đạo đức, hợp với phong tục tập quán, văn hóa của các dân tộc, nơi chúng ta đang sống như là những công dân.

Chánh niệm được xem là nền vững và trên nó, chánh định được thiết lập. Nếu chánh định được xem là con đường trở thành Thánh nhân, thì chánh niệm chính là cái móng của con đường đó. Mặc dù đứng ở vị trí thứ 7 trong Bát chánh đạo, nhưng chánh niệm được xem là chủ đạo của tất cả các phương thức hành vi và điều chỉnh các nhận thức sai lầm, đưa cảm giác của con người vào quỹ đạo của sự chân chính. Do đó, kết quả của sự hành trì đạt ở mức độ cao nhất của nó.

Trước hết chưa nói về từ ngữ không chuẩn và những sai lầm trong luận kiến của ông tiến sĩ, chúng ta thử làm một tư duy biện chứng theo tính Nhân – Quả:

Chân lý đưa đến hạnh phúc toàn mãn mà Đức Phật chỉ ra là Tứ Diệu đế : Khổ – Tập – Diệt – Đạo. Vậy để nhận ra khổ ta cần điều gì: Chánh tri kiến – là cái thấy biết chân thật về vạn tượng, vạn hữu, cái thấy biết này nhờ sự chân thật của nó mà biết được sự thật về Khổ:

  1. “Ai quy y Ðức Phật,
    Chánh pháp và chư tăng,
    Ai dùng chánh tri kiến,
    Thấy được bốn Thánh đế.”

(phẩm Đạo)

Ở đây Đức Phật đã nhấn mạnh tính trọng yếu, tiên phong của chánh tri kiến, nhờ đó mà “ thấy bốn Thánh đế” . Ông tiến sĩ cũng thừa nhận vậy. Nhờ nhân này mà chánh tư duy để biết nguyên nhân khổ, thẩm sát tầm tứ liên tục không dừng nghỉ mà cho ta những tri kiến như thật về  nguyên nhân khổ và con đường giải khổ , từ đó mà chánh ngữ và chánh nghiệp ( nói lên hay hành động) như kinh Pháp cú đã dẫn giải :

    1. Ý dẫn đầu các pháp,
      Ý làm chủ, ý tạo;
      Nếu với ý ô nhiễm ( tà tư duy)
      Nói lên hay hành động ( tà ngữ, tà nghiệp)
      Khổ não bước theo sau,
      Như xe, chân vật kéo.
  1. Ý dẫn đầu các pháp,
    Ý làm chủ, ý tạo;
    Nếu với ý thanh tịnh ( chánh tư duy)
    Nói lên hay hành động (chánh ngữ, chánh nghiệp)
    An lạc bước theo sau,
    Như bóng, không rời hình.

Nguyên nhân từ chánh ngữ, chánh nghiệp ( nói lên hay hành động) mà được chánh mạng (công đức – an lạc bước theo sau ). Tuy nhiên, chỉ một phút buông lơi, tự mãn với những gì đã đạt được thì như ruộng không làm cỏ sẽ mọc, những điều đạt được sẽ trôi theo dòng nước. Bởi vậy phải luôn huân tập tích lũy bởi chánh tinh tấn. Để cảnh tỉnh điều này Đức Phật đã khuyến cáo trong kinh Bát đại nhân giác:

Lười biếng sẽ bị đọa

Nếu luôn hành tinh tiến

Phá nát phiền não ác

Tồi phục bốn loại ma

Sẽ rời xa địa ngục

(Điều giác ngộ thứ 4)

Vì luôn được huân tập  và nhờ thường trú trong tỉnh giác với mọi hành vi thân ngữ tâm  – chánh niệm  mà được chánh định hay hiện trú lạc pháp. Từ hiện trú lạc pháp trở lại bồi đắp thêm chánh tri kiến ….

Như vậy tính Nhân – Quả luôn hiện hữu trong trình tự này. Đó là một trình tự thỏa mãn điều kiện cần và đủ, hoạt dụng, chu biến và tương hỗ lẫn nhau. Trong đó chánh kiến – chánh tư duy  là  những viên gạch xây trên nền tảng của Tuệ tri giải thoát – Trạch pháp (Đức Phật đã định nghĩa trạch pháp (dhammavicaya) này như sự “tìm kiếm, thẩm sát, xem xét kỹ lưỡng, để có tuệ giác hay sự hiểu biết sâu sắc về những điều kiện bên trong tự thân…và những điều kiện bên ngoài.”)( điều này thể hiện rõ trong kinh Kalamas), từ nền tảng này, được  chuyển thành lời nói (chánh ngữ) và hành động  (chánh nghiệp) theo quỹ đạo chánh pháp mà xây nên ngôi nhà chánh mạng , ngôi nhà này được làm đẹp thêm mãi nhờ người thợ cần mẫn chánh tinh tấn, luôn chánh niệm (quán niệm trên thân, thọ ,tâm, pháp )  nên được hiện trú lạc pháp – chánh định …

Không phải vô cớ Đức Phật đặt để một trình tự như vậy. Trạnh pháp  luôn là mũi nhọn của mũi tên giải thoát.  Nhờ thẩm sát bởi nó mà các chánh kia được lập thành, lại  bởi  có các chánh kia mà trạch pháp được thực thi. Cũng vậy mà về mặt ngôn ngữ biểu trưng , bảo quan  trên đầu chư Bồ tát  có hình tượng Ngũ Phật đại diện ngũ trí Như Lai , biểu trưng cho trạch pháp.

Nói đến đạo Phật là nói đến Quỹ đạo chánh pháp, mọi sự giảng thuyết đi lệch cốt lỗi này đều là tà kiến. Cũng như khi nói về 8 ngành của con đường Bát thánh đạo,  sự đặt để , trọng thị “thứ nhất bao gồm chánh kiến và chánh tinh tấn, sau đó là chánh niệm” là tà kiến . Thử hỏi những ngành kia bỏ đi đâu? Ví dụ nếu không có chánh tư duy thì  chánh kiến có tác dụng không, những ngành kia có được phô diễn hay không? Ngược lại có chánh kiến mà không chánh niệm  thì những chánh kia có hoạt dụng?  Không thể nào ! Bởi tất cả 8 ngành đó hợp lại con đường giải thoát. Nếu thiếu một thì không thành tựu.

Tuy nhiên, ở đây  điều mà có thể tạm thời so sánh đó là mức độ hoạt dụng và chu biến của mỗi ngành trong bát thánh đạo  mà thôi. Ví như ta có thể chánh kiến ,chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định . Nhưng ai cũng biết  rằng  8 gió, 5 độc luôn rập rình vây quanh thủ đoạn vi tế hở cơ là chiếm đoạt. Vậy nếu không có chánh tư duy thì công trình kia có còn gì không. Khẳng định là tiêu tan! Không ngẫu nhiên mà các Tổ cảnh báo : ba ngày không  tư duy (thực hành pháp) ma quỷ chiếm đoạt tâm. Do vậy về tính họat dụng và chu biến thì chánh tư duy có vai trò quan trọng nhất trong Đạo Phật. Chánh tư duy thuộc về Trí tuệ, nhờ chánh tư duy mà thâm nhập được vào Tứ thánh đế. Đức Phật có chánh tư duy mà từ bỏ hai biên kiến trở về trung đạo, và nhờ chánh tư duy trong 49 ngày dưới gốc bồ đề mà Ngài tìm ra được con đường giải thoát cho tất cả: (http://chanhtuduy.com/mot-it-quan-niem-ve-chanh-tu-duy/). Trong  kinh Pháp cú  đã xác quyết :

      1. Chân thật, biết chân thật,
        Không chân, biết không chân:
        chúng đạt được chân thật,
        do chánh tư, chánh hạnh.

Vậy nên luận kiến của ông tiến sĩ là sơ sài, khinh suất hoàn toàn không có căn cứ. Chưa nói ông hoàn toàn nhầm lẫn ở những điểm sau:

“Khi có mặt của chánh niệm thì sự phát ngôn của chủ thể nhận thức bao giờ cũng là ngôn ngữ từ ái, hòa hợp, văn hóa và lợi lạc”: Điều này  là sở thuộc của chánh ngữ được bảo quản bởi chánh niệm

Khi có chánh niệm đi đầu thì các hành động của thân sẽ không bao giờ rơi vào sát sanh, trộm cướp và tà hạnh, tránh được tất cả các tai nạn lao động, tai nạn giao thông. Sự đạo diễn của chánh niệm sẽ giúp cho nghề nghiệp bao giờ cũng là hợp pháp, hợp đạo đức, hợp với phong tục tập quán”: Điều này là sở thuộc của chánh tư duy và chánh nghiệp, nó chỉ được theo dõi bởi chánh niệm mà thôi chứ không phải do “sự đạo diễn của chánh niệm” như ông nói.

Ví dụ hiểu về sát sinh : Phải hội đủ các yếu tố

Có ý sát sinh

Có kế hoạch cho việc sát sinh

Thực hiện hoàn chỉnh việc sát sinh

Hoan hỷ với việc sát sinh

Có đầy đủ các yếu tố đó mới cấu thành nên tội sát sinh, ngoài ra thì không. Đó chính là công lao của trạch pháp ( chánh kiến – chánh tư duy). Nhờ có nó mà sẽ không tạo ra nhân sát sinh (các việc khác tương tự) như vậy mà được chánh nghiệp. Nếu như cách nói của ông thì những người làm nghề mổ heo, gà … không thể tu được sao? Nhớ thời Đức Phật thuyết pháp có vị đồ tể theo học Phật và đắc thánh quả. Sau đó đó đạo chúng hỏi Ngài đắc thánh quả rồi có làm nghề nữa không. Vị Thánh trả lời : Có, tôi vẫn phải làm vì đó là nghiệp của những chúng sanh đó. Lòng từ bi của tôi là làm cho chúng được chết mau lẹ không đau đớn và được tái sinh vào cõi lành.

Qua đó ông có thể thấy được rằng giảng sai “một ly đi một dặm”, sự sai lệnh đó sẽ  cầm tù  ngay chính người Phật tử trong nhận thức của mình.

Tôi không hiểu là một Thích tử sao ông TNT có thể nói sai lời Đức Phật như vậy. Không chỉ dừng ở đó ông còn tiếp tục:

“Chánh niệm được xem là nền vững và trên nó, chánh định được thiết lập. Nếu chánh định được xem là con đường trở thành Thánh nhân, thì chánh niệm chính là cái móng của con đường đó”

Nói thật, đến đây chỉ còn biết thở dài mà tiếc cho sự học của tiến sĩ “Nếu chánh định được xem là con đường trở thành Thánh nhân” Tôi chẳng hiểu cái “con đường” lẫn “cái móng” của ông thế nào nhưng cứ xem gương xưa thì rõ. Đề Bà Đạt Đa có tu theo Phật không , hay Thiện Tinh  theo đạo khác chăng, và cho đến Thần Tú thế nào? Họ cũng chánh niệm, chánh định đấy , vậy họ có là Thánh nhân như ông nói không? Phường rắp tâm hại Phật, hạng ngụy kính bên người, tuồng mưu đồ chính trị … và còn bao nhiêu tấm gương khác nữa.

Tôi nói cho ông biết là chánh định chưa bao giờ là riêng của Đạo Phật. Các ngoại đạo vẫn thực hành thiền định từ khi chưa có đạo Phật.  Trước khi giác ngộ đạo sĩ Gautama  đã chứng quả thiền ở cấp độ cao nhất, nhưng Ngài vẫn thấy đó chưa phải là cứu cánh tối hậu.

Do vậy thiền – định  không thể làm nên Thánh nhân. Vì sao? Ông có biết vì sao Đức Phật không nói nhiều về thần thông không và Ngài cấm hàng đệ tử không thực hành thần thông không? Đó là vì đắc định sẽ xuất hiện thần thông, khi đó bất kỳ ai lấy trợ hạnh làm chánh hạnh sẽ lâm vào tình trạng bị độc mạn tấn công, tự cho mình đã thành tựu và lạm dụng thần thông, kết quả là  rơi vào ma cảnh “ tẩu hỏa nhập ma” mà nguy hại bản thân. Cần phải có chánh tư duy mới có thể tinh tấn không rơi vào chướng đạo . Cũng vậy Thánh giả Gampopa khuyến cáo :

Cho những kinh nghiệm tâm linh khởi lên từ phương tiện là tối thượng mà không thấu đáo bản chất chân thật của sự vật và hiện tượng, cũng giống như nhầm lẫn đồng là vàng . Đây là một thất bại trầm trọng

Nhân đây cũng nói cho ông tiến sĩ về Định để ông được tỏ tường. Ngay trong  Ngũ phần Pháp thân của đạo  Phật bao gồm:  Giới – Định – Tuệ – Giải thoát – Giải thoát tri kiến , thì Định mới ở hàng thứ 2 thôi. Điều làm nên sự sai khác giữa Thánh – Phàm không phải Định mà là Tuệ tri giải thoát. Ông tiến sĩ hiểu chưa?  Phật dạy “ Duy Tuệ thị Nghiệp”  cũng như Đức Long Thọ Bồ tát  khai thị “ trong 5 ba la mật  mà thiếu Tuệ ba la mật cũng như không”.

Về cách hiểu Định cũng cần phải hiểu đạo Phật lấy tâm (ý) làm chủ : “ Ý dẫn đầu các pháp. Ý làm chủ ý tạo …” (kinh Pháp cú),  vì thế Định là Định của tâm, là Hiện trú lạc pháp. Mức độ hiện trú như thế nào sẽ tương ứng cảnh giới tương tự

Nhưng ở phương diện một Thượng tọa trong Đạo Phật  mà sự giảng luận của ông mỗi lúc một khác, cái này tự vả mặt cái kia, lúc ông nói rằng:  “Thực tập đúng Bát chánh đạo theo tinh thần của đức Phật dạy trong bài kinh Tứ Thánh Đế này, một trăm người, đảm bảo một trăm người có kết quả. Không thể nào có kết quả khác được, vì nó là tiến trình của nhân quả”. Nhưng ngay sau đó ông lại tự phản pháo mình :

Định thứ nhất là chuyển hóa tình yêu và tính dục, người tại gia không làm được, chỉ dành cho người xuất gia và những người tại gia không lập gia đình

Tại sao ông cho rằng người tại gia không làm được việc “chuyển hóa tình yêu và tính dục”?

Thứ nhất, ở chỗ này ông đã nói một cách sơ sài qua loa (một là  do ông coi khinh đạo chúng nên nói sơ sài cho có, hai là ông chưa hiểu được thực nghĩa nên sơ sài cho xong buổi)

Thứ hai, đáng lẽ ông phải nói cho họ nghe về 4 bậc Thiền và 8 sức Định chớ? Điều mà ông nói trên là 4 Thiền, chứ không phải “ chánh định gồm 4 cấp”

Vậy phải chỉnh lại là “ Thiền thứ nhất – sơ thiền là chuyển hóa ngũ dục thành hỷ lạc ” mới đúng  (phạm trù tình yêu  thế gian nằm trong  thuộc tính của ngũ dục : danh – lợi – sắc – thực – thùy ).

Ngay trong cách giải thích của ông tiến sĩ cũng tự mâu thuẫn lẫn nhau: “ Cấp định thứ tư là xả định thanh tịnh, tức là chúng ta vô hiệu hóa tất cả các nỗi khổ, niềm đau bằng việc kết thúc ý niệm hóa nhận thức công việc. “ Thế nào là vô hiệu hóa?  Khi chuyển hóa được ngũ dục ( không phải tính dục)  thành hỷ lạc  “ly dục sinh hỷ lạc” thì đâu còn đau khổ hay niềm đau mà cần phải “ vô hiệu hóa” ? Đây là ông nói bậy,  phía trước ông nói đã chuyển hóa (cấp 1) sau đó đến trải nghiệm sự an lạc, mà không cần phải theo dõi đối tượng (cấp 2) tiếp đến từ bỏ hai an lạc hạnh phúc của cấp 1, cấp 2, “ trải nghiệm một thiền định sâu lắng hơn, thư thái hơn mang tính vô điều kiền, không bị lệ thuộc hơn” , sao đến  cấp 4 lại phải “vô hiệu hóa tất cả các nỗi khổ, niềm đau bằng việc kết thúc ý niệm hóa nhận thức công việc “ . Ông nên nhớ khi “vô hiệu hóa”  là còn dụng công, còn theo dõi đối tượng , nhưng ngay ở cấp 2 ông đã khẳng định là “không cần phải theo dõi đối tượng”, vậy chả lẽ cấp 4 không bằng cấp 2 à?

Cũng nhân đây nói thêm cho ông nhớ lại, Dục là ham muốn chung , ông đừng chỉ nên hướng nó về góc độ tính dục (nam nữ) , hiểu vậy là do vọng tâm của ông đó. Nếu không trở ngại ông tìm hiều vể thực nghĩ của Thiền định tại đây: http://chanhtuduy.com/cai-bay-cua-tam-thuc/

Từ  những luận điểm này của ông, tôi khẳng định với ông tiến sĩ đây là tội ác . Nó làm người cư sĩ tụt sâu vào hố thẳm của  luân hồi . Vì sao ?

Đức Phật đã tuyên thuyết rằng : “Thân người quý báu” . Cơ hội làm người còn khó gấp nhiều lần việc con rùa mù lọt bọng cây. Để làm được người  đến khi gặp Đạo là một kỳ tích hy hữu : “(1) Người ra khỏi ác đạo được làm người khó (2)đã được làm người bỏ thân nữ được thân nam là khó (3)đã được thân nam sáu căn đầy đủ là khó (4)sau căn đầy đủ sinh ra vùng trung tâm đất nước là khó (5)sinh ra vùng trung tâm đất nước gặp Phật ra đời là khó (6)đã gặp Phật ra đời lại gặp bậc tu Đạo là khó (7)đã gặp được đạo lại sanh lòng tin là khó (8)đã sanh lòng tin lại phát tâm bồ đề là khó (9)đã phát tâm bồ đề mà đạt đến chỗ vô tu vô chứng là khó”  (Kinh đại bảo tích)

Tôi hỏi ông , hiện nay giữa  thế giới loài người 7 tỷ này liệu có bao nhiêu người vượt qua những điều khó đó để đến với Đạo, đến với ông. Sao ông lại có thể lừa gạt họ như vậy? Chỉ một câu nói của ông người ta liền rơi xuống hố thẳm của luân hồi (vì thấy mình không thể giải thoát được thì tu làm gì).

Tôi hỏi ông dù họ “có đầy đủ các phước báu, không thêu dệt trên các phước báu, biết chia sẻ phước báu với các mảnh đời bất hạnh hoặc kém may mắn hơn mình là tốt rồi  ” thì đời sau có thể tiếp tục được tái sinh người để tu không (trong 6 loài chỉ có loài người có thể tu) , sẽ trải qua bao nhiêu luân hồi nữa họ mới có cơ hội làm người? Đây chính là tội : Cản trở người có ý định đạt đến giác ngộ.

Ông đã không có cơ sở nhưng lại phát ngôn bừa bãi, phóng túng. Tôi nhắc cho ông tiến sĩ  về một  tấm gương chưa xa đó là Ni sư  (cư sĩ ) Satomi Myodo (tục danh là Satomi Matsuno) của Nhật Bản. Bà vốn là tín đồ thần đạo, sau đó tu Phật mà kiến Tánh khi vẫn có gia đình (thậm chí là không hạnh phúc ). “Ở Việt nam , Cư sĩ, bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám là người nổi tiếng dịch kinh Thủ Lăng Nghiêm và đã từng làm Thầy giảng pháp cho các Đại lão Hoà thượng như Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Hoa; Cư sĩ tại gia Vọng Tây – người dịch pháp của HT.Tịnh Không, là giảng sư dạy Phật pháp trong các trường Cao đẳng Phật Học; Cư sĩ Diệu Âm Minh Trị (Úc Châu), tuy không có giảng pháp trong các trường Phật học, nhưng Ngài cũng thường được thỉnh mời đến các chùa khắp nơi để giảng dạy pháp môn Hộ Niệm Vãng Sanh cho phật tử xuất gia và tại tại gia” (theo báo Giác ngộ).

Đó là chưa kể đến các bậc Thánh  dòng Ningma của Phật giáo Mật tông  Tây tạng (chắc ông mù tịt về những điều này)

Ông tiến sĩ đừng vì rằng củng cố vai trò của tăng lữ mà tạo ra sự độc tôn về giải thoát như vậy : “Các pháp môn Trung Quốc dư một chất, vì chỉ dựa vào một vài bài kinh, thiếu các chất còn lại, vì bỏ quên gần 30.000 bài kinh khác của đức Phật, không thể toàn diện được. Nếu một bài kinh có thể trị bá bệnh cho chúng sinh như Trung Quốc đã tuyên bố, đức Phật chẳng nhọc công 45 năm thuyết giảng chi cho mệt”.  Đức Phật có nhọc công hay không chỉ Ngài mới biết. mà Đức Phật là  Như Lai – Ứng Cúng – Chánh biến tri – Minh hạnh túc – Thiện thệ – Thế gian giải – Vô thượng sĩ – Điều ngự trượng phu- Thiên nhân sư – Phật – Thế tôn  thì sao có thể “ nhọc công”  hay “ mệt”. Đây là nói bừa, là phỉ báng . Ngoài ra nói tông phái khác chỉ dùng mấy kinh mà lập Tông là thiếu toàn diện, trong khi chính ông tự nhận đọc mấy kinh đã có thể coi “ Tổ chỉ là dữ liệu tham khảo”  rồi: “tôi đọc lại kinh Tứ Diệu Đế, kinh Tứ Niệm Xứ và kinh An Ban Thủ Ý mới thấy rất rõ rằng, các phương pháp của đức Phật có trình tự bài bản hơn phương pháp của các Tổ

Một là ông đang tự coi mình là Phật để  thuyết . Hai là ông quá tăng thượng mạn ?.  Đừng coi Tổ – Thầy là dữ liệu, cũng đừng co đồ chúng của mình như “bầy cừu” ông TNT ạ. Nếu phải qua 30.000 bài kinh thì rảnh rỗi như hàng tăng ni còn không làm được, huống gì là cư sĩ. Hơn nữa nếu tất cả họ đi đến giác ngộ  mà phải học 30.000 bài kinh thì họ lấy thời gian đâu để làm lụng để cúng dường cho ông  có điều kiện mà thuyết láo giảng bậy không?. Nói thật, tôi thấy hổ thẹn lắm thay. Trong kinh Trường bộ- kinh Phạm võng ,Đức Phật dạy :

Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn tà kiến, tà pháp, tà mạng … “ .đều là hạng phàm phu thấp kém.

Khuyên thêm ông khi thuyết giảng  cũng đừng làm động tác dang hai tay như cách mà Chúa Jesu làm như vậy. Hãy nhớ ông là một Thích tử. Và nhớ yếu tố giác ngộ của chúng sinh không phụ thuộc vào tại gia hay xuất gia ( thực nghĩa của xuất gia là ra khỏi 3 ngôi nhà lửa : Thế sự gia – phiền não gia – tam giới gia  kia, không phải lìa ngôi nhà bằng gạch lên chùa là xuất gia đâu ông ạ, đấy là ăn mày cửa Phật đấy,  “lìa cuộc sống mà cầu tìm giác ngộ chẳng khác chi tìm ra sừng thỏ lông rùa”), nó phụ thuộc vào động cơ mong muốn đạt đến giác ngộ của mỗi người:

a/ Dù với điều kiện xuất gia, nhưng không có mong muốn đạt giác ngộ thì tâm người đó vẫn chỉ chìm nghỉm trong biển dục vọng, họ sử dụng chiếc đầu trọc, chiếc y và thuộc lòng  giáo lý và sẵn sàng lái pháp theo nhu cầu để  làm phương tiện tạo đời. Ngôi chùa, tự viện, giảng đường … đều là không gian kiếm sống và tạo lập các kế hoạch thu lợi. Hạng này không hề có tâm tàm quý, mục tiêu của họ là ngũ dục và sự thỏa mãn ngũ dục

      1. Ai mặc áo cà sa.
        tâm chưa rời uế trược,
        không tự chế, không thực,
        không xứng áo cà sa

b/ Tuy là còn sống trong đời tục nhưng với mong muốn đạt giác ngộ , họ nỗ lực sử dụng mọi chất liệu đời sống làm nguyên nhân để tu tập, kiên quyết bảo vệ chánh pháp và giúp người khác nhận thức được giá trị của chánh pháp và giải thoát tối hậu. Mục tiêu của họ là thể nhập vào dòng chảy của Pháp, đạt đến giác ngộ

      1. “Nếu người theo đường này,
        Ðau khổ được đoạn tận.
        Ta dạy người con đường.
        Với trí, gai chướng diệt.”

Nên nhớ cho “Với trí, gai chướng diệt.”. Đừng cho rằng cạo đầu đắp y, ở chùa, ăn chùa mới là thanh tịnh và có khả năng Giải thoát “ hai mươi, ba mươi, năm mươi phần trăm …”. Tôi cũng mong được như ông nói, như đáng tiếc là không được như vậy. Sự thanh tịnh không phải tìm ở nơi thân, nơi ăn …. Mà sự thanh tịnh nằm ở nơi Tâm. Chuyển hóa tâm mới là điều Phật dạy. Do vậy nên sát – dâm –vọng – đạo   … vốn không nhìn ở nơi thân mà có thể thấy được để chứng minh là ai đó thanh tịnh (do cắt ái ly gia, ăn chay …) mà nó nằm nơi Tâm . Trong kinh Thủ lăng nghiêm Đức Phật thuyết :

Nếu chúng-sinh lục-đạo các thế-giới, cái tâm không dâm, thì không đi theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội cốt để ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng dâm, thì không thể ra khỏi trần-lao được. Dầu có nhiều trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn lòng dâm, cũng chắc lạc vào ma-đạo

A-nan, lại các chúng-sinh lục-đạo trong các thế-giới, nếu cái tâm không sát, thì không theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội, cốt ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng sát, thì không thể ra khỏi trần-lao được. Dầu có nhiều trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn lòng sát, thì chắc phải lạc vào thần-đạo

A-nan, lại như chúng-sinh lục-đạo trong thế-giới, tâm không thâu-đạo, thì không theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội, cốt ra khỏi trần-lao, nếu lòng thâu-đạo không trừ, thì không thể ra khỏi trần-lao được; dầu có nhiều trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn được lòng thâu-đạo, thì chắc phải lạc vào tà-đạo

A-nan, chúng-sinh lục-đạo trong thế-giới như thế, tuy nơi thân tâm không còn sát, đạo, dâm, cả ba hạnh đã được viên-mãn, nếu mắc phải đại-vọng-ngữ, thì Tam-ma-đề không được thanh-tịnh, thành giống ma ái-kiến và mất giống Như-lai

(Trích Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển sáu. Dịch giả: Tâm Minh Lê Đình Thám)

Trong thực tế đã có rất nhiều những kẻ bên ngoài làm màu nhưng bên trong dấu dao “tiếu trung hữu đao”, còn không ít người bên ngoài biểu hiện như vậy nhưng là bậc thánh. Đức Tilopa là ông già ăn lòng cá thối và dắt gái. Thánh tăng Angulimala giết người vẫn có thể đắc thánh quả, dâm nữ Ambapali  vẫn  được độ thành,Yasa, một công tử giàu có đam mê dục lạc, vẫn được Ngài thâu nhận làm đệ tử, rồi chẳng bao lâu đã chứng quả. Như Châu-lợi Bàn-đà-già là người u mê, si độn , vẫn được Phật đưa vào giáo đoàn. Sau này trở thành người có tài biện luận sắc sảo, nổi tiếng là bậc Nhớ Nghĩa hay đệ nhất.

Do vậy Sơ tổ Mật tông, Đức Liên Hoa Sanh Đại sĩ cảnh tỉnh “Bậc hiền trí hiện thân với hình dạng bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, đội lốt tu hành, đừng lầm đồng là vàng”

(Giáo huấn Dakini)

 2/ Chân dung kẻ qua cầu rút ván

Trong truyền thống Tôn Sư – Trọng Đạo của người Việt nằm lòng rằng “ Một chữ cũng là Thầy , nửa chữ cũng là Thầy”. Thế tục còn vậy huống hồ trong Đạo, vị Thầy tâm linh là người vô cùng quan trọng trong vận mệnh tâm linh của học trò. Gặp được vị Thầy – Thiện tri thức là một hạnh duyên vô cùng hy hữu, còn khó hơn cả việc sinh vào thời có Phật ra đời mà kinh Đại bảo tích đã nói. Vị Thầy  trong đạo Phật là người như thế nào? Trước hết Ngài đã chứng ngộ Phật pháp, và Ngài với những phẩm tánh:

Biết đúng tất cả những đối tượng cần gạt bỏ

Biết thấu đáo nhiều phương pháp để từ bỏ chúng

Biết đúng tất cả những đối tượng cần phải thực hành

Biết trọn vẹn những phương pháp để thực hành chúng

Truyền thụ tri thức cho học trò với lòng Bi mẫn

(Luận Sư Dharmakirti – Pháp Xứng)

Khi người học trò vượt qua được cái khó là gặp được  vị Thầy dạy đạo, từ đây trở đi anh ta tinh tấn trên đường tu học, thành tựu hay không hoàn toàn tùy thuộc vào tâm ý của mình: “đã gặp được Đạo – Thầy  lại sanh lòng tin là khó (8)đã sanh lòng tin lại phát tâm bồ đề là khó (9)”. Trường hợp ông tiến sĩ ở đây không lĩnh hội được giáo huấn của thầy mình, không tự kỷ lại quay ra chê bai pháp môn mà thầy đã chứng:

Công án và Thoại đầu chủ yếu dựa trên ngôn ngữ để thiết lập chánh niệm (….)Triết lý đó có thể hay nhưng phương pháp thực tập rất khó, kết quả khó được đảm bảo.

… Trong phương pháp thiền Công án và Thoại đầu thì Tổ sư và những vị Thiền sư hướng dẫn không quan tâm đến năm trói buộc thấp này. Tôi là thị giả cho Hòa thượng Duy Lực 2 năm, vào năm 1987, 1988. Khi Hòa thượng sang Hoa Kỳ, tôi trở về lại chùa Giác Ngộ tu. Ngay từ thời điểm đó, Hòa thượng rất mong tôi làm thị giả trọn đời để hỗ trợ Hòa thượng phiên dịch kinh từ tiếng Hán sang tiếng Việt. Sau khi trở về lại chùa Giác Ngộ, tôi đọc lại kinh Tứ Diệu Đế, kinh Tứ Niệm Xứ và kinh An Ban Thủ Ý mới thấy rất rõ rằng, các phương pháp của đức Phật có trình tự bài bản hơn phương pháp của các Tổ. Mặc dù rất kính vị thầy mà mình đang nương học, nhưng tôi đã không chọn phương pháp đó. Mỗi khi Hòa thượng trở về Việt Nam hoằng pháp, tôi vẫn đến thăm, nhưng không truyền bá pháp môn Công án và Thoại đầu ở vị thầy mà mình rất tôn kính.

Xảo biện! Đã không thúc liễu thân tâm hồi quang tự kỷ thì thôi, lại còn quay lại phê phán pháp của Thầy – Tổ, gọi Tổ là “ dữ liệu để tham khảo”, “Học ở các Tổ, ta sẽ đi theo một “ngón nghề” nào đó, ngoài cái đó ra, ta không biết đến những thứ khác, cho nên có nhiều giới hạn.” ( ông quên mất tinh thần của Kinh lá rừng Simsapà).  Đời gọi là phản phúc, là qua cầu rút ván đấy ông tiên sĩ ạ. Là người tu Phật mà có 4 cái ơn ông đánh mất cả 4, phạm vào ngũ đại trọng giới :

Giảng sai pháp cho người tín tâm, làm hư hại huệ mạng của họ , vô ơn với chúng sinh là : Sát

Chê bai Thầy – Tổ là phỉ báng Phật, vô ơn với Thầy – Tổ là  : Vọng

Thầy – Tổ là vị thừa kế tâm linh của Đức Phật, học Thầy mà chê Thầy – Phật là trộm pháp  gọi là : Đạo

Say sưa bởi sự thôi thúc của ham muốn chứng tỏ bản thân một cách thái quá, mà không từ cách thức , chê Thầy báng Tổ , gọi là : Túy

Ngoài ra,  lỗ hổng trong tư duy cùng với tâm thuật bất thiện làm nên một “ bà tám” trong đạo pháp với phong cách dè pha, ngồi lê đôi mách :

“ Các pháp môn của Trung Quốc rơi vào tình trạng bị tác dụng phụ rất nhiều. Trong lịch sử mấy nghìn năm qua, các tổ sư Việt Nam chúng ta biết rất rõ, nhưng vì tế nhị, cả nể không nói. Chúng tôi mạnh dạn nói một cách như thế để chúng ta bớt đi sự ngủ quên trên các giấc mơ cực lạc này. Trung Quốc đã dựng ra quá khéo, mà trên thực tế, chúng ta sẽ không đạt được vì nó là phi nhân quả.”

Tôi chưa từng thấy ai như vậy, một sự ton hót rẻ rúng, thiếu tế nhị và phi quân tử như vậy.  Ai nói cho ông biết “Trong lịch sử mấy nghìn năm qua, các tổ sư Việt Nam chúng ta biết rất rõ, nhưng vì tế nhị, cả nể không nói” . Các vị Tổ đó nói với ông sao ?  Các vị Tổ là người ở ngoài sự chi phối của 8 gió 5 độc mà còn “cả nể” là sao? Tự bịa đặt còn vu vạ cho các Tổ Việt nam “cả nể không nói”. Chà, vậy chỉ có Thượng tọa Thích Nhật Từ là “ anh hùng” thôi . Nhưng nếu chỉ “ anh hùng miệng” thôi thì chưa đủ cần phải có tố chất nữa, như với sở học này thì thế nào nhỉ ? Và cùng một lúc “ ai kia” lại trở về tự khóa miệng mình :

Hành giả có nền tảng của chánh niệm(?) theo kinh tạng Pali thì đi vào Công án và Thoại đầu rất nhanh. Nếu không có nền tảng này, thì khi đi vào Thoại đầu, Công án, thời gian sau dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”. Cứ tưởng rằng mình là Tổ, rồi tuyên bố rằng “không nhai lại đàm dãi” của Phật,  bậc tổ sư đi trước. Chánh pháp mà quan niệm như thế, trong khi mình chưa đạt, mà lại hủy bỏ nó, thì cũng giống như không biết bơi mà không dùng đến thuyền hoặc phao. Rất nhiều người mới thực tập bị ngộ nhận như thế này. Tưởng rằng mình chứng đắc cao, nên trở nên cao ngạo và bị “té đau” trong sanh tử và luân hồi.”

Có người học Tổ – Thầy sau đó quay lại chê Tổ – Thầy , cũng cứ tưởng “mình là Tổ, rồi tuyên bố rằng “không nhai lại đàm dãi” của Phật, bậc tổ sư đi trước”:

Thước đo của đức Phật vẫn sâu sắc hơn rất nhiều so với thước đo của các vị tổ sư và thiền sư ở Trung Quốc, Nhật Bản,Triều Tiên và Việt Nam. Chúng tôi vẫn thường tâm niệm giữa Phật và Tổ, ta nên chọn Phật, ăn chắc mặc bền. Tổ chỉ là một dữ liệu để tham khảo

Vậy là thành Tổ rồi, Tổ chỉ là dữ liệu để tham khảo thôi mà, thầy cũng vậy. Có nói rằng viết được bởi có người cầm tay, nói được bởi có người mớm . Người ta đã quên điều đó, thảo nào có người ra mặt “ kên “ luôn với vị thầy của mình :

Sau khi trở về lại chùa Giác Ngộ, tôi đọc lại kinh Tứ Diệu Đế, kinh Tứ Niệm Xứ và kinh An Ban Thủ Ý mới thấy rất rõ rằng, các phương pháp của đức Phật có trình tự bài bản hơn phương pháp của các Tổ. Mặc dù rất kính vị thầy mà mình đang nương học, nhưng tôi đã không chọn phương pháp đó. Mỗi khi Hòa thượng trở về Việt Nam hoằng pháp, tôi vẫn đến thăm, nhưng không truyền bá pháp môn Công án và Thoại đầu ở vị thầy mà mình rất tôn kính. ”

Tất cả điều đó không cần lý giải nhiều, nó đã nằm trong “ nhận thức” của kẻ “ qua cầu rút ván”:

“ Là học trò của đấng giác ngộ (sao lại viết thường ?), ta không nên thần tượng hóa các tổ sư. Các vị tổ sư có thể có sở trường về một lĩnh vực nhưng có thể có sở đoản ở những lĩnh vực còn lại. Đức Phật có sở trường toàn diện, theo đức Phật thì ta có được tinh thần của phái kinh Lượng Bộ (?), tức học nhiều bài kinh khác nhau, như thế sẽ hỗ trợ tốt cho sự hành trì hơn. Học ở các Tổ, ta sẽ đi theo một “ngón nghề” nào đó, ngoài cái đó ra, ta không biết đến những thứ khác, cho nên có nhiều giới hạn.”

Tôi nhớ trong tác phẩm Lời vàng của Thầy tôi, ngay chính một bậc Thượng thủ trong Phật đạo, Đức Patrul Rinpoche xác định:

Giáo lý của Đức Phật thì bao la, những lời thuyết giảng đã được trao truyền thì vô số kể, và giáo lý ấy bao trùm một phạm vi rộng lớn với những chủ đề vô tận.

Nếu không nương tựa vào những giáo huấn tâm yếu cốt tủy của một vị Thầy, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được làm cách nào để thâu góm được tất cả các điểm trọng yếu và đưa những điểm trọng yếu ấy vào thực hành.

Có một lần, khi Ngài Jowo Atisha đang ở Tây Tạng thì Khu, Ngok và Drom đến hỏi: “Đối với những người muốn đạt được giải thoát và toàn giác thì giữa những kinh điển, những luận giảng, hay những giáo huấn khẩu truyền của vị Thầy, cái nào quan trọng hơn?”
Ngài Atisha trả lời:
“Các giáo huấn của vị Thầy”.
“Tại sao vậy?”
“Bởi khi đi vào thực hành – cho dù các ông có thể giảng được toàn bộ Tam Tạng (Tripitaka) bằng trí nhớ và hết sức thiện xảo trong khoa siêu hình – nhưng nếu không có đuợc sự hướng dẫn thực tế của một vị Thầy thì các ông và Giáo Pháp sẽ không thể hợp nhất được.

Một kẻ vô ơn không hơn : Vô ơn với chúng sanh ( nhận cúng dường của đàn na tín thí nhưng lừa họ là không thể giải thoát được). Vô ơn với Sư trưởng  (Thầy – Tổ). Vô ơn với cha mẹ ( họ nuôi nuôi dưỡng phải đứa con vô ơn) để người đời mai mỉa. Vô ơn với đất nước  . Tuy nhiên tôi không hề bàng hoàng hay thất vọng về những gì tiến sĩ Thích Nhật Từ biểu cảm qua những dòng niệm tưởng về Phật – Tổ – Thầy của ông, bởi vì tôi hiểu  được “vạn pháp duy tâm tạo”, lời nói và việc làm đã phô hiện toàn bộ sắc thái tâm thức của ông.

Cuối bài này cũng xin bày tỏ với ông tiến sĩ TNT rằng, chỉ vì để người đọc có cái nhìn rõ ràng  trước những ngụy luận của cuốn sách  của ông theo tinh thần tứ y cứ và thánh giáo lượng …mà tôi còn phải tiếp tục phơi bày những hạt “ sạn ”  của cuốn sách này qua những bài viết sau vì nó thuộc “loại sách gối đầu giường cần thiết cho mọi đối tượng độc giả.”

Trước khi dừng bài viết này, tôi xin nhớ về một lời dạy của Đức Phật để cầu nguyện cho tất cả chúng sinh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ:

      1. “Không trên trời, giữa biển,
        Không lánh vào động núi,
        Không chỗ nào trên đời,
        Trốn được quả ác nghiệp.” (Kinh Pháp cú – Phẩm ác)

Nam mô Cầu sám hối Bồ tát ma ha tát !

Thanh Hóa ngày 8/10/2017

Mật Linh Nguyên

  1. Hạnh Dung says:
    Thưa Thầy ! con rất tranh thủ giờ rảnh công việc cty con vừa đọc xong bài viết của Thầy!

    Con cảm ơn Thầy giúp con có được nhân duyên hiểu sâu xa hơn trên con đường tu học Phật Pháp chánh đạo!

    Nam Mô A DI ĐÀ PHẬT!

    Con kính chúc Thầy  vui khỏe ạ!

  2. Mật Tuyết Hoa says:
    Mô Phật,

    Pháp đệ hoan hỷ và cảm ơn thiện hạnh tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Linh Nguyên noi gương theo vị Thầy tiếp tục đãi “sạn” trong cuốn sách “gối đầu giường” của TT Thích Nhật Từ.

    Bài viết của đạo huynh tiếp tục cho mọi người thấy được bản chất thật sự của TT Thích Nhật Từ qua chính cuốn sách mà TT Thích Nhật Từ viết. Đó là sự thể hiện rõ kẻ Vô Ơn của TT Thích Nhật Từ như:  vô ơn với chúng sanh, vô ơn với Sư trưởng, vô ơn với cha mẹ, vô ơn với cha mẹ, vô ơn với đất nước  chẳng chút tàm quí nào. Thật đúng là “Văn tức thị nhân” nên dù có mang mặc áo cà sa, ăn nói trôi chảy nhưng  biểu hiện và cách hành văn thì không giấu được.

    Pháp đệ hoan hỷ và mong chờ những bài viết  “đãi sạn”  tiếp theo của đạo huynh.

    Con thành tâm nguyện cầu sức khỏe và sự trường thọ đến Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh.

    Nguyện cầu đạo huynh Mật Linh Nguyên đời đạo hanh thông, mọi ước nguyện thầm kín sẽ viên thành.

    Nguyện cầu tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om Mani Padme Hum.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status