Sep 12, 2017

Posted by in Giáo điển, Lá thư người tâm đạo | 18 Comments

Phản biện những lỗi sai của đại đức Thích Phước Tiến trong luận giải về giới luật

Phản biện những lỗi sai của đại đức Thích Phước Tiến trong luận giải về giới luật

Kính gửi đại đức Thích Phước Tiến,

Tôi là phật tử, pháp danh là Mật Diệu Hằng, thế danh là Nguyễn Thị Thúy Nga, vừa qua, tôi có nghe 2 file giảng pháp của thầy Thích Phước Tiến trên youtube, gồm: Nhận Thức Về 5 Giới – Thầy Thích Phước Tiến (https://www.youtube.com/watch?v=J3aH4ehqtog&feature=youtu.be) và Lời Chia Sẻ Với Những Cư Sĩ Thọ Bồ Tát Giới – Thầy Thích Phước Tiến (https://www.youtube.com/watch?v=o4Vm7xipVC0&feature=youtu.be), tôi xin đưa ra những ý kiến như sau, tôi mong thầy hoan hỷ đón nhận.

1/ Trong video giảng pháp đầu tiên: Nhận thức về 5 giới, thầy có nói rằng: Tăng bảo là người xuất gia (Phật bảo, tăng bảo, pháp bảo) (phút 35:00) và sau khi quy y rồi, Phật tử phải tôn trọng các vị tăng sĩ xuất gia (phút 35:15). Tăng ở đây có nghĩa là thanh tịnh nơi tâm. Trong kinh Pháp bảo đàn, Lục tổ Huệ Năng đã dạy rằng:“Này các thiện tri thức, Huệ Năng tôi xin khuyên chư vị hãy quy y Tam bảo nơi tự tánh của mình. Phật là giác ngộ, Pháp là chân lý, Tăng là thanh tịnh.” và tăng là tuân theo giới luật của đức Phật, như lời Ngài dạy trong kinh Pháp Cú:

“Bậc tỳ kheo đích thực

Không phải đi khất thực.

Bậc tỳ kheo đích thực.

Là sống theo giới luật”

Vị thầy chân chính với tâm thanh tịnh mới xứng đáng là đệ tử của Như Lai, Tôn giả Punna Mantàniputta trình bày với Tôn giả Sàriputta một cách tóm tắt:“Này Hiền giả, giới thanh tịnh là nhằm mục đích đạt đến tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là nhằm đạt đến tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là nhằm đạt đến đoạn nghi thanh tịnh. Đoạn nghi thanh tịnh là nhằm đạt đến Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là nhằm đạt đến trí tuệ thanh tịnh. Trí tuệ thanh tịnh là nhằm đạt đến Vô thủ trước Niết bàn. Này Hiền giả, sống Phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn là nhằm đạt đến Vô thủ trước Niết ban chứ không có gì khác” (Trung Bô kinh III, tr. 150).

Chính vì vậy mà Phật trước khi nhập diệt Niết Bàn, Phật khuyến cáo: “… Nếu biết rõ vị tỳ kheo nào đó trong Tăng đoàn phá giới, đừng vì lẽ người ấy mặc áo cà sa mà cung kính lễ bái… (kinh Đại bát Niết bàn, phẩm Như lai tánh, quyển 1). Và đức Phật đã khuyến cáo: “Tỳ kheo giữ pháp thấy có người phá giới hủy hoại chánh pháp, bèn nên khu khiển, quở trách, cử tội. Tỳ kheo này là đệ tử của Như Lai, là chơn thật thanh văn. Nếu thấy mà bỏ qua, thời nên biết tỳ kheo này là người hại Phật pháp” (Kinh Đại bát Niết bàn, phẩm Trường thọ – Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch).

Tôi thấy rằng chỉ lấy tiêu chuẩn “xuất gia” mà cho rằng đó là Tăng bảo và khuyên đồ chúng chỉ quy y với tăng ni Phật tử là lập luận khinh xuất, không căn cứ, vô luận chứng. Hơn nữa, chiếc áo cà sa của nhà Phật ượng trưng cho sự thanh tịnh, chứ không phải chỉ là mảnh vải màu vàng khoác lên trên người các vị “đầu tròn áo vuông”. Trong Luật Ma Ha Tăng Kỳ, đức Phật đã chỉ rõ:

“Trong không lìa si ám.

Ngoài giả mặc Cà-sa.

Lòng ôm ấp độc hại,

Không đáng mặc Cà-sa.

Thiền định trong vô tướng

Vĩnh viễn diệt phiền não.

Nội tâm thường vắng lặng

Mới đáng mặc Cà-sa”.

bài giảng “Nhận Thức Về 5 Giới – Thầy Thích Phước Tiến” đăng trên Youtube

Vậy tôi hỏi thầy, thầy nghĩ sao với trường hợp đại sỹ Liên Hoa Sanh là sơ tổ Mật Tông Tây Tạng? ngài Marpa, ngài Tilopa và cư sĩ Lý Bỉnh Nam là thầy của hòa thượng Tịnh Không? Còn rất nhiều các thánh giả cư sĩ khác? Thầy khuyên Phật tử chỉ tôn trọng các vị tăng xuất gia để tăng vị thế của mình như vậy đã trái với tinh thần tứ chúng đồng tu và phủ nhận sự giác ngộ của cư sĩ.

2/ Trong video thứ hai: Lời Chia Sẻ Với Những Cư Sĩ Thọ Bồ Tát Giới – Thầy Thích Phước Tiến, tôi không đồng tình với lập luận tiền hậu bất nhất, không có luận cứ, luận chứng của thầy về điều kiện thọ bồ tát giới là phải ăn chay trường (phút 27:45), trong khi đó thầy có nói rằng trong tứ nhiêp pháp của bồ tát để giáo hóa chúng sanh gôm: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Thấy cho biết, đồng sự là phải song hành cùng chúng sanh; như nếu chúng sanh là cướp thì bồ tát phải hóa thân đồng dạng là tướng cướp, chúng sanh là kỹ nữ thì bồ tát hóa thân là tú bà. Vậy trong trường hợp này tôi thắc mắc nếu đã hóa thân là tướng cướp hay tú bà để giáo hóa chúng sanh thì làm sao có thể trường chay?

Lại nữa, thầy còn đưa ra ví dụ nếu ăn chay trường bị bệnh, bác sỹ khuyên không được ăn chay, nếu hành giả bồ tát giới lo sợ cho tính mạng của mình nên không ăn chay nữa thì thầy lại cho rằng đây là bồ tát dỏm (phút 28:50). Thầy lại nói trong bài giảng rằng hành giả cư sĩ thọ bồ tát giới vì sự lợi lạc của tất cả hữu tình. Do đó, vì hữu tình mà có thể tùy thuận chúng sanh, hành bồ tát đạo không có đúng, không có sai mà điều cần có là đại bi tâm, tại sao thầy lại dùng điều kiện trường chay để gây cản trở cho người thực hành bồ tát đạo?

Như ví dụ ở trên, hành giả bồ tát giới nếu vẫn trường chay và chấp nhận ảnh hưởng đến tính mạng thì không trân quý thân người quý báu và còn ảnh hưởng đến biết bao nhiêu hữu tình, còn đâu là đại bi tâm của cư sĩ thọ bồ tát giới? Nếu vì không trường chay được mà từ bỏ con đường bồ tát đạo thì chính thầy đã gây cản trở cho người tu hành theo con đường bồ tát đạo. Vậy thầy giảng pháp làm gì?

Lại nữa, thầy nói điều quan trọng nhất của người hành bồ tát đạo là tâm đại bi và thực hành lục độ ba la mật. Tâm đại bi và lục độ ba la mật có liên quan gì đến việc chay mặn? Ăn uống chỉ là phương tiện để nuôi sống tấm thân tứ đại, không liên quan gì đến việc tu tập. Bởi vì, đạo Phật lấy tâm làm chủ, lấy trí làm đầu và bồ tát giới tử thực hành tam tụ tịnh giới gồm Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiều ích hữu tình giới. Việc thầy đưa ra điều kiện bắt cư sĩ thọ bồ tát giới cần phải trường chay là vô lý, là cố tình ngăn cản Phật tử cư sĩ thực hành con đường bồ tát đạo.

Trên thực tế rất nhiều thánh giả, phật tử cư sĩ thực hành bồ tát đạo ăn mặn có đời sống gia đình như đại sỹ Liên Hoa Sanh, ngài Duy Ma Cật, ngài Marpa, ngài Naropa, ngài Patrul Rinpoche, HH.J.Dudjom, Dilgo Khentse, Kusum Lingpa, Chagdud Tulku, Thinley Norbu hay cư sĩ Bồ tát Lý Bỉnh Nam, Nghiêm Xuân Hồng, cư sĩ Lê Đình Thám, ngay cả đức Đại lai lạt ma thứ 14 cũng đã ăn mặn.

Bởi vì, ăn chay không phải là 1 trong 10 hoạt động tâm linh của đạo Phật, ăn chay cũng không nằm trong lục độ ba la mật. Trong kinh Ưu Bà Tắc giới không hề quy định hành giả thọ bồ tát giới phải trường chay. Đồng thời, trong 64 giới nguyện bồ đề tâm không có giới nào bắt hành giả thọ bồ tát giới chay trường.

Trong kinh Ưu bà tắc giới ghi rằng nếu phạm một trong chín điều sau thì không được thọ giới: Gia thuộc không cho, thiếu nợ người khác, thân tâm có bệnh, ô tịnh phạm hạnh, làm tội ngũ nghịch, trộm pháp tặc trụ, khó phân biệt phái nam hay phái nữ, giết người có tâm đạo, vọng ngữ trước chúng.

Tôi thấy cũng lạ, chay trường không được quy định trong kinh Phật dành cho cư sĩ nhưng thầy Thích Phước Tiến lại giảng trường chay là điều kiện tiên quyết để thọ bồ tát giới. Nhưng giới cấm không chạm vào người nữ giới đối với tỳ kheo thì thầy lại đưa ra ví dụ vị tăng vì cứu cô gái đuối nước mà chạm vào người cố ấy với lý do vì lợi ích của tất cả hữu tình nên tăng sĩ có quyền phạm giới cấm của mình để thực hành bồ tát giới. Tôi tự hỏi, tại sao tăng sĩ được quyền phá giới cấm để hành trì bồ tát giới vì lợi lạc hữu tình nhưng cư sĩ lại phải tuân theo điều không phải là giới luật của nhà Phật để từ bỏ hạnh nguyện bồ tát vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh?

Trong phẩm hai: phát tâm bồ đề, kinh Ưu bà tắc giới đã ghi rõ:

“Thiện nam tử! Sáu pháp Ba la mật đều lấy tâm Đại bi làm gốc.

Thiện nam tử! Bồ tát có hai hạng: một là Bồ tát xuất gia, hai là Bồ tát tại gia. Bồ tát xuất gia tu tập tâm Đại bi không khó, Bồ tát tại gia tu tập tâm Đại bi mới khó. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc.

Thiện nam tử! Người tại gia nếu không tu tập tâm Đại bi, không thể đắc giới Ưu bà tắc. Sau khi tu tập tâm Đại bi, sẽ được đắc giới.

Thiện nam tử! Bậc xuất gia chỉ có thể tu trọn vẹn năm pháp Ba la mật, không thể tu trọn vẹn Bố thí Ba la mật. Người tại gia thì có thể tu tròn cả sáu pháp. Vì sao? Vì họ trong tất cả thời gian, có thể tu tập bố thí tất cả. Vì thế, người tại gia trước tiên phải tu tâm Đại bi. Nếu đã tu tập tâm Đại bi, người đó sẽ được đầy đủ trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ. Nếu tu tâm Đại bi, vật khó bố thí có thể bố thí, điều khó nhẫn nhịn có thể nhẫn nhịn, những việc khó làm đều có thể làm. Do đây biết rằng, tất cả các pháp lành, đều lấy tâm Đại bi làm gốc.

Thiện nam tử! Nếu có người tu tập tâm Đại bi như vậy, phải biết người ấy có thể phá tan nghiệp ác to như núi Tu di, không bao lâu sẽ chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Người ấy dù tu chút thiện, sẽ được quả lành như núi Tu di.”

3/ Điểm thứ ba tôi không đồng tình với luận điểm của thầy Thích Phước Tiến đưa ra là hành giả bồ tát giới không được minh oan. Thầy nói rằng: minh oan không còn hạnh bồ tát (ở phút 39:30). Trong khi đó, trong giới nguyện bồ đề tâm, giới cấm phụ thứ 15 có ghi: Không tránh tiếng xấu. Thực hành bồ tát đạo là vì lợi lạc của tất cả chúng sanh, nếu để chúng sanh hiểu sai về mình thì làm sao có thể gần gũi, hàng phục chúng sanh để giúp họ lìa mê về giác?

Hơn nữa, trong kinh Ưu bà tắc giới có thuyết: “Thiện nam tử! Bồ tát cầu sống lâu, vì muốn chúng sinh khen ngợi giới không sát sinh; Bồ tát cầu dung nhan tuyệt thế, vì muốn chúng sinh thấy mặt đều vui mừng; Bồ tát cầu dòng dõi tôn quí, vì muốn chúng sinh khởi lòng cung kính; Bồ tát cầu sức lực mạnh mẽ, vì muốn trì giới, tụng kinh, ngồi thiền; Bồ tát cầu của cải tràn đầy, vì muốn điều phục chúng sinh; Bồ tát cầu thân người nam, vì muốn thành pháp khí để chứa đựng pháp lành; Bồ tát cầu ăn nói hùng hồn, vì muốn chúng sinh nghe lời dạy dỗ của mình; Bồ tát cầu ở giữa đám đông không sợ, vì muốn phân biệt pháp chân thực.”

Vì lợi ích của tất cả hữu tình nên hành giả Bồ tát giới phải cẩn trọng trong hành vi thân ngữ tâm để tránh tiếng xấu, phải giữ hình ảnh trang nghiêm để điều phục chúng sanh, chứ không phải có tư tưởng mình làm gì thì làm, khi tạo nghiệp, gây tiếng xấu là mặc kệ thiên hạ, ai nói gì thì nói, điều này không đúng với tinh thần bồ tát đạo.

4/ Cũng như vậy, khi thực hiện lục độ ba la mật, hành giả thực hành bồ tát đạo cần tác pháp chiếu quang vì lợi mình, lợi người như phẩm chuyển sanh, kinh Đại bái nhã Ba la mật đa: “Lại nữa, Xá Lợi Tử! Có Bồ tát Ma ha tát an trụ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã ba la mật đa, thường vì hữu tình bị tà kiến mù quáng mà làm pháp soi sáng; cũng đem ánh sáng này, thường tự soi mình, cho đến quả vị Giác ngộ tột cao, từng chẳng lìa bỏ pháp soi sáng này”

Trong kinh Ưu bà tắc giới, phẩm mười: lợi mình, lợi người đã thuyết: “Bậc Đại Bồ tát! Lại vì chúng sinh nói sự lỗi lầm của phiền não, sự giải thoát khỏi phiền não, khen ngợi đức hạnh của bạn lành, quở trách lỗi lầm của bạn ác, tán thán công đức của bố thí, hủy báng lỗi lầm của bỏn sẻn. Bồ tát thường nên ở chỗ tịch tĩnh tu hành, khen ngợi công đức của sự tịch tĩnh, thường tu tập Phật pháp, tán thán sự tu tập Phật pháp. Nếu được như vậy, gọi là lợi mình lợi người.”

Phẩm bốn: giải thoát trong kinh Ưu bà tắc giới có thuyết: “Thiện nam tử! Bồ tát khi cầu Bồ đề, lại có bốn việc: (1) một là gần gũi bạn lành, (2) hai là tâm bền chắc không lay chuyển, (3) ba là có thể làm những hạnh khó làm, (4) bốn là thương xót chúng sinh. Lại có bốn việc: (5) một là thấy người khác được lợi ích, tâm sinh vui mừng; (6) hai là thường vui vẻ khen ngợi công đức người khác; (7) ba là thường thích tu tập pháp lục niệm; (8) bốn là thường nói lỗi lầm của sinh tử.”

Rõ ràng là, hành giả hành bồ tát đạo cần thiết “thường nói lỗi lầm của sinh tử”, chỉ ra những điểm tà kiến của chúng sanh, quở trách lỗi lầm của bạn ác (ác tri thức) vì lợi lạc của tất cả hữu tình, giúp chúng sanh lìa mê về giác. Hành giả bồ tát nên có tinh thần vô úy, dũng mãnh giương cao ngọn cờ đả tà xây chánh nhằm lợi mình lợi người. Đây mới là sự hy sinh đúng nghĩa của một hành giả bồ tát, không phải theo nghĩa hy sinh là cố chay trường để hủy hoại thân người quý báu như thầy Thích Phước Tiến đã nói.

“Lời Chia Sẻ Với Những Cư Sĩ Thọ Bồ Tát Giới – Thầy Thích Phước Tiến” đăng trên Youtube

5/ Trong bài giảng, thầy Thích Phước Tiến có nói rằng cư sĩ bồ tát giới không được nhận lễ vật, tịnh tài cúng dường quá nhu cầu thọ dụng của mình. Tuy nhiên, trong giới nguyện Bồ đề tâm có giới cấm: “không nhận vàng bạc và những thứ khác khi thí chủ thành tâm cúng dường”, bởi vì người thực hành bồ tát đạo nhận phẩm vật tịnh tài cúng dường là phương tiện giúp chúng sanh gieo phước điền và cũng là phương tiện để độ hóa quần sanh.

Bởi lẽ, công đức của bồ tát sơ phát tâm được đức Phật xác quyết trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm sơ phát tâm công đức như sau:“Giả-sử có người đem tất cả đồ sở-thích cúng-dường chúng-sanh trong mười vô-số thế-giới ở mười phương trọn trăm kiếp, rồi sau đó dạy họ đều tu thập-thiện. Cúng-dường như vậy trọn ngàn kiếp rồi dạy tứ-thiền. Cúng-dường như vậy trọn trăm ngàn kiếp rồi dạy tứ-vô-lượng-tâm. Cúng-dường trọn ức kiếp rồi dạy trụ tứ-vô-sắc-định. Cúng-dường trọn trăm ức kiếp rồi dạy trụ quả Tu-Ðà-Hoàn. Cúng-dường trọn ngàn ức kiếp rồi dạy trụ quả Tư-Ðà-Hàm. Cúng-dường trọn trăm ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả A-Na-Hàm. Cúng-dường trọn trăm ngàn na-do-tha ức kiếp, rồi dạy trụ Bích-Chi-Phật.

Này Phật-tử ! Cứ theo ý của ông, công-đức của người này có nhiều chăng ?

Thiên-Ðế thưa : ‘Công-đức của người này chỉ có Phật là biết được thôi.’

Pháp-Huệ Bồ-Tát nói : ‘Này Phật-tử ! Công-đức của người này đem so với công-đức của Bồ-Tát sơ-phát-tâm chẳng bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu-ba-ni-sa-đà.”

Đồng thời, trong kinh Ưu Bà tắc giới đã ghi rõ: “Thiện nam tử! Phước đức của bọn ngoại đạo đoạn được tâm tham dục, thù thắng hơn phước đức của chúng sinh trong cõi dục giới; Tu đà hoàn thù thắng hơn bọn ngoại đạo dị kiến; Tư đà hàm thù thắng hơn Tu đà hoàn; A na hàm thù thắng hơn Tư đà hàm; A la hán thù thắng hơn A na hàm; Bích chi phật thù thắng hơn A la hán; người tại gia phát tâm Bồ đề, lại thù thắng hơn Bích chi phật. Người xuất gia phát tâm Bồ đề không khó, người tại gia phát tâm Bồ đề, quả thật không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc. Lúc người tại gia phát tâm Bồ đề, thì từ cõi trời Tứ thiên vương, cho đến cõi trời Sắc cứu cánh, tất cả đều kinh ngạc vui mừng, nói như thế nầy: “Hôm nay chúng ta đã có được vị Thầy của trời người!”.(Phẩm một:tập hội – kinh Ưu bà tắc giới)

Ngoài ra, việc thọ nhận cúng dường từ đạo chúng còn là phương tiện để giáo hóa chúng sanh, trong phẩm mười một: trang nghiêm mình và người, kinh Ưu bà tắc giới có ghi :

“Thiện Sinh bạch Phật: “Kính bạch Đức Thế Tôn! Bậc Đại Bồ tát đầy đủ bao nhiêu pháp mới có thể làm lợi mình lợi người?”

– Thiện nam tử! Bậc Đại Bồ tát đầy đủ tám pháp, có thể làm lợi mình lợi người. Tám pháp đó là gì? Một là tuổi thọ lâu dài, hai là dung nhan tuyệt thế, ba là sức lực mạnh mẽ, bốn là dòng dõi tôn quí, năm là của cải tràn đầy, sáu là làm thân người nam, bảy là ăn nói hùng hồn, tám là ở giữa đám đông không sợ.”

6/ Thầy Thích Phước Tiến cho rằng hành giả bồ tát cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là ích kỷ, ở phút 42:23: Thọ bồ tát giới không có nguyện vãng sanh, vãng sanh về Cực lạc làm phước báu với ai, cứu ai, nguyện vãng sanh về cực lạc đồng nghĩa là các vị là người nhát, Ta bà khổ não cầu vãng sanh là ích kỷ, cầu kiếm phước báu và an lành, không mang nghĩ bồ tát. Tôi không đồng tình với quan điểm này. Vì khi vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thì hành giả sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để giúp đỡ chúng sanh bằng nhiều phương tiện khác nhau như hóa thân. Tương tự như khi phát bồ đề tâm thực hành con đường bồ tát đạo thì Phật tử giúp đỡ chúng sanh nhiều hơn là chỉ hành trì ngũ giới, khi đã vãng sanh Tây Phương Cực Lạc quốc, hành giả sẽ có tâm rộng lớn và có điều kiện giúp đỡ chúng sanh hơn vì khi đó công đức và trí tuệ đủ đầy.

Trong kinh Ưu bà tắc giới có ghi:“Thiện nam tử! (1) Vì hai việc nên phát tâm Bồ đề: một là tăng tuổi thọ, hai là thêm tài sản. (2) Lại có hai việc: một là vì không muốn chủng tính Bồ đề đoạn tuyệt, hai là vì muốn đoạn trừ phiền não tội khổ của chúng sinh. (3) Lại có hai việc: một là tự quán sát mình trong vô lượng đời chịu bao nhiêu là khổ não mà vẫn không được lợi ích, hai là tuy có chư Phật xuất hiện nhiều như số cát sông Hằng, các ngài cũng không thể độ thoát mình, mà chính mình phải tự độ. (4) Lại có hai việc: một là tu các nghiệp lành, hai là những nghiệp lành đã tu sẽ không mất. (5) Lại có hai việc: một là vì muốn vượt hơn tất cả quả báo của trời người, hai là vì muốn vượt hơn tất cả quả báo của Nhị thừa. (6) Lại có hai việc: một là vì cầu đạo Giác ngộ nên nhận chịu nhiều khổ não, hai là vì muốn được vô lượng sự lợi ích rộng lớn. (7) Lại có hai việc: một là quán sát chư Phật nhiều như số cát sông Hằng ở quá khứ, vị lai, đều giống như mình, hai là quán sát thâm sâu rằng Bồ đề là pháp có thể chứng được, vì thế phát tâm tu tập. (8) Lại có hai việc: một là quán sát Bồ tát lục trụ, tuy có tâm thoái chuyển, vẫn còn thù thắng hơn tất cả Thanh văn, Duyên giác, hai là siêng năng truy cầu quả vị Vô thượng Chánh giác. (9) Lại có hai việc: một là mong tất cả chúng sinh đều được giải thoát, hai là mong quả báo giải thoát của chúng sinh vượt hơn quả báo của ngoại đạo. (10) Lại có hai việc: một là không xả bỏ tất cả chúng sinh, hai là xa lìa tất cả phiền não. (11) Lại có hai việc: một là vì đoạn trừ khổ não của chúng sinh trong đời nầy, hai là vì ngăn chận khổ đau của chúng sinh trong đời sau. (12) Lại có hai việc: một là vì muốn đoạn trừ sự chướng ngại của trí tuệ, hai là vì muốn đoạn trừ thân chướng của chúng sinh.”

Nói như thầy Thích Phước Tiến thì đức Phật A Mi Đà, giáo chủ Tây Phương Cực Lạc là không thực hành bồ tát hay sao? hay đức Phật Thích Ca Mầu Ni cũng không thực hành hạnh bồ tát khi các ngài đã trở thành Phật?

7/ Bài giảng của thấy Thích Phước Tiến mang tiêu để là “Lời Chia Sẻ Với Những Cư Sĩ Thọ Bồ Tát Giới” nhưng thầy không những không hoan hỷ với thiện hạnh thực hành bồ tát đạo của những người cư sĩ tại gia mà thầy lại còn gây cản trở hành giả cư sĩ thực hành con đường bồ tát đạo.

Đầu tiên thầy lấy điều kiện trường chay để gây cản trở cư sĩ thực hành bồ tát hạnh bằng một ví dụ rằng kể cả mất mạng cũng không được bỏ trường chay. Nếu không trường chay được thì đừng thọ bồ tát giới. Rồi đến khi cư sĩ hỏi là cư sĩ còn đời sống vợ chồng, không thể bỏ chối bỏ trách nhiệm gia đình được, thì thầy liền khuyên bỏ con đường bồ tát đạo, làm người bình thường thôi.

Ở phút 56:06, có phật tử hỏi nếu con mất thì vợ con thế nào, thân người là quý hiếm, mình cần giữ để giúp đỡ người khác. Thầy liền nói rằng nếu suy nghĩ như vậy thì thọ bồ tát giới làm chi? Bồ tát giới thầy nói vậy, làm sao tùy các vị, xác định làm được thì thọ, không làm được thì thôi.

Tôi thực sự sốc khi nghe thầy thuyết giảng như vậy. Thầy giảng pháp để khuyến tấn người tu, hoan hỷ với thiện hạnh của người tu dù là cư sĩ hay tăng sĩ, chứ không phải giảng để cản trở những người có ý nguyện đạt tới sự toàn giác. Thầy luôn tự hào với “phật học ứng dụng” nhưng không chỉ ra cho Phật tử cư sĩ những phương pháp, phương tiện để thực hành dễ dàng nhất, có thể ứng dụng Phật pháp trong đời sống hàng ngày để viên thành đời đạo. Thầy giảng xong rồi thầy kết luận thực hành bồ tát hạnh là phải vô ngã tuyệt đối, phải trường chay, phải hy sinh gia đình, vợ con, nếu không làm được thì đừng thọ bồ tát giới nữa. Điều này hoàn toàn trái ngược với tinh thần tứ chúng đồng tu, phục vụ chúng sanh là cúng dường Tam Bảo, là đại bi tâm vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.

Trong kinh Ưu bà tắc giới đã ghi rõ ràng: “Thiện nam tử! Bồ tát thực nghĩa là người có thể nghe hiểu nghĩa lý sâu xa…Thường dạy chúng sinh rằng đạo Bồ Đề dễ được, làm cho người nghe không sinh lòng lo sợ, mà siêng năng tu hành. Coi thường phiền não, không để cho phiền não lay động mình. Tâm không buông lung, thường tu nhẫn nhục. Vì muốn đắc quả vị Niết Bàn mà trì giới và tu tập tinh tiến. Nguyện làm người phục dịch cho chúng sinh, làm cho họ được an ổn, vui sướng. Vì người khác chịu khổ, tâm không sinh hối hận. Thấy người thoái thất tâm Bồ Đề, sinh lòng thương xót. Cứu vớt tất cả chúng sinh khổ não, quán sát lỗi lầm và tội ác của sinh tử. Có thể viên mãn sáu pháp Ba la mật vô thượng. … Dùng pháp Tứ nhiếp thâu phục chúng sinh. Biết rõ Thế tục đế nên tùy thuận chúng sinh. Khi vì chúng sinh mà thọ khổ, tâm không lay động như núi Tu di. Tuy thấy chúng sinh tạo nhiều nghiệp ác, ít người làm lành, nhưng vẫn không bỏ rơi họ. Đối với Tam Bảo không sinh lòng nghi, thường ưa cúng dường. ..Ưa khen ngợi sự hay của người, vì họ mà giảng Phật pháp, hầu mở đường cho họ đến Niết Bàn. Muốn người khác học tất cả các kỹ thuật. Thấy người học hơn mình, tâm sinh vui mừng. Không nghĩ đến lợi mình, mà thường nghĩ đến việc lợi người. Tất cả nghiệp lành thân khẩu ý, đều không vì chính mình, mà vì chúng sinh. Đây gọi là Bồ tát thực nghĩa.”(Phẩm tám: bồ tát giả danh, bồ tát thực nghĩa)

8/ Điều cuối cùng tôi không đồng tình với đại đức Thích Phước Tiến đó là thầy Thích Phước Tiến khẳng định đức Phật không dạy cúng bái và thầy cũng khẳng định trong vòng 49 ngày, hương linh sẽ tái sinh nhưng thầy vẫn khuyến khích cúng bái vì đó là đạo lý, là tín ngưỡng, là văn hóa truyền thống. Thầy là thầy tu đạo Phật hay là ngoại đạo mà cổ súy việc cúng bái?

Tôi nghe bài giảng của thầy Thích Phước Tiến, những điều thầy nói ra giống với tiêu chí của “bồ tát giả danh” đang cố gắng cản trở cư sĩ thực hành bồ tát đạo; như lời kinh Ưu bà tắc giới đã thuyết trong phẩm tám: bồ tát giả danh, bồ tát thực nghĩa:

“Thiện nam tử! Chúng sinh phát tâm Bồ Đề rồi, được gọi là Bồ tát giả danh, nếu ưa học pháp thuật, cùng đọc tụng kinh điển của ngoại đạo, lại đem pháp ấy giáo hóa chúng sinh. Không thích tu tâm Từ bi, vì thân mệnh mình mà giết hại chúng sinh. Tham mê sinh tử, thường tạo nghiệp mong hưởng cảnh vui hữu lậu. …Thường sinh lòng bỏn sẻn, ganh ghét, giận dữ, gần gũi bạn ác, biếng nhác, loạn tâm. Ưa ở trong vô minh, không tin pháp Lục độ. Không chịu tu phước đức, không chịu quán sinh tử. Thường ưa nghe theo lời ác của người khác. Những người như vậy được gọi là Bồ tát giả danh.”

Cầu nguyện đau khổ của tất cả chúng sanh được lắng dịu.

Om Mani Padme Hum.

Mật Diệu Hằng

  1. Nguyen thanh says:
    Hiểu không thấu đáo, giảng thuyết không lô gic, trình bày thiếu nhất quán…cho nên thầy Phước Tiến dù nói hay nhưng không phải họ Thích, phương chi ở đây là chưa đạt chuẩn về 4 phương diện của Chánh kiến! Thuở xưa Phật khuyến cáo hạng hoàng môn (LGBT) được tu nhưng không tu được (Vị tằng hữu thuyết nhân duyên). Phật cũng dạy hạng người biết thuyết giảng kinh và luật khó gặp như Phật Bồ tát Thánh tăng đó sao? (Kinh 3 hạng người khó gặp). Giảng thuyết thiếu luận cứ, không luận chứng thì luận giải của họ liệu chừng như lý tác ý?
    • Kính bạch Thầy!

      Con cảm tạ ơn Thầy đã khai thị.

      Trong bài giảng của thầy Thích Phước Tiến không hề chỉ ra cho đồ chúng biết về 4 phương tiện của Chánh kiến. Hai video giảng về giới luật nhưng thầy Thích Phước Tiến không hề đưa ra tiêu chuẩn để giúp chúng sanh đạt được mục tiêu giác ngộ tối thượng. Hơn nữa, các bài giảng của thầy Thích Phước Tiến toàn tự ý lập ngôn, lan man, không nhất quán.

      Các bài giảng của các thầy hiện nay, kêt cả những thầy được cho là giảng hay, giảng nhiều nhưng lại không giảng đúng với lời dạy của đức Thế Tôn. Chính những bài giảng tự ý lập ngôn, không nhất quán, thiếu luận cứ, luận chứng đã làm cho Phật tử không hiểu được lời dạy của đức Phật và gây cản trở cho người tu. 

      Đức Phật dùng nhiều phương tiện thiện xảo, nhiều phương pháp dễ thực hành để chúng sanh tiếp cận với chánh pháp Phật đà, còn những người “đầu trọc áo vuông” lại tìm mọi cách cản trở cư sĩ tiến tu trên đạo lộ giải thoát. Trong khi đó, cư sĩ cúng dường, lao tác giúp họ tu tập, sao họ không biết nhớ ơn và trả ơn chúng sanh, ơn thí chủ? Một người không nhớ ơn và không biết trả ơn thì không xứng đáng mang họ Thích.

      Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì sự lợi lạc của tất cả chúng sanh.

      Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

      Om Mani Padme Hum.

  2. Mật Phê Rô says:

    Kính Bạch Thầy !

    Con đã đọc bài tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng với những bài giảng của đại đức Thích Phước Tiến .

    Mô Phật !

    Pháp đệ tán thán thiện hạnh đạo huynh Mật Diệu Hằng với những luận chứng luận cứ sâu sắc dựa trên thánh giáo lượng . Đệ đọc những điều mà đại đức Thích Phước Tiến giảng mà đệ không khỏi bải hoải . Cầu nguyện cho đại đức TPT hoan hỷ đón nhận những chia sẻ của đạo huynh Mật Diệu Hằng mà còn chút tàm quý gỡ bài giảng tà kiến này xuống vì lợi lạc của chúng sanh .

    Cảm ơn đạo huynh Mật Diệu Hằng đã viết bài . Cầu nguyện đạo huynh Mật Diệu Hằng – Mật Nhị Khang luôn được hanh thông thế sự , đời đạo song hành , viên thành mọi ước nguyện .

    Con cầu nguyện Thầy Cô sức khỏe , trường thọ vì đại nghiệp hoằng dương chánh pháp , làm lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh .

    Om Mani Padme Hum !

  3. Mô Phật!

    Kính Bạch Thầy, con đã đọc bài viết của đạo huynh Mật Diệu Hằng và comment của vị Thầy. Pháp đệ tán thán đạo huynh Mật Diệu Hằng đã dùng những lập luận chặt chẽ chỉ ra sai lầm của thầy Thích Phước Tiến về giới luật, đặc biệt là gây khó khăn quá đáng cho người cư sĩ.

    1. Pháp đệ tán thán đạo huynh Mật Diệu Hằng chỉ ra sai lầm của thầy Thích Phước Tiến khi cho rằng xuất gia là “Tăng” và người Phật Tử phải tôn trọng người xuất gia. Đây là quan kiến hết sức chủ quan vì “Tăng” (Sangha) có nghĩa là “Thanh Tịnh”. Tuy nhiên, chiếu theo lời thầy TPT thì cái áo là minh chứng cho sự kính ngưỡng tức là có sự bám luyến với cái áo cà sa. Như vậy thì đâu phải là Tâm Thanh Tịnh với cái áo.

    Pháp đệ lại nhớ đến câu chuyện một vị tỳ kheo vì quá bám luyến cái áo cà sa của mình mà sau khi chết sinh làm con rệp ở trong áo, nhờ Phật nhắc mới thoát khỏi kiếp đó. Cũng vậy, hàng tăng sỹ nếu như chỉ biết “Duy Y Thị Nghiệp” tức dựa vào cái áo mà khẳng định đạo hạnh còn Thân Tâm không chuyển hóa, thì đó chỉ là một Nhân Luân Hồi không hơn không kém.

    Thêm vào đó, Đức Phật có một định nghĩa nữa về sa môn rằng:

    “Chư Phật thường giảng dạy

    An nhẫn, hạnh tối thượng,

    Niết Bàn, quả tối thượng;

    Xuất gia không phá người;

    Sa môn không hại người.”

    (Pháp Cú, phẩm Phật Đà)

    Chiếu theo lời Phật dạy, những kẻ gây hại cho chúng sanh thì không xứng đáng làm bậc sa môn. Đó là những kẻ rao giảng Tà Kiến, Tà Thuyết của ngoại đạo như bói toán, tử vi, phong thủy,…những kẻ gây khổ sở cho chúng sanh về chuyện chay-mặn, những kẻ phỉ báng tông môn giáo pháp, những kẻ chia rẽ Tăng Đoàn,…MGSN dưới ngọn cờ Chánh Kiến của vị Thầy đã không ít lần đối luận với những kẻ “con trùng ăn thân sư tử” này vì lợi ích chúng sanh. Thế nhưng chúng vẫn cống cao ngã mạn chẳng những tàn hại Huệ Mạng của chúng sanh mà vẫn muốn chúng sanh kính trọng chúng thật không ra làm sao.

    1. Thông qua việc thầy TPT nhiếc móc người Bồ Tát cư sĩ không ăn chay thì không được thọ giới mà pháp đệ ngán ngẩm. Đây có phải là lời của một Bồ Tát hay không? Chắc chắn là không, bởi chiếu theo kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa có nói rằng:

    “Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa nên Tâm không ngăn ngại”.

    Trong khi người hành giả Bồ Tát Giới tùy thuận chúng sanh mà còn bị ngăn ngại khi ăn uống là vô lý. Phải chăng điều này là “Tà Sư vì y theo tâm ý mình nên Tâm luôn ngăn ngại”? Nói như thầy TPT thì kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn, Bồ Tát Quán Thế Âm không thể vì chúng sanh hữu tình mà biến hóa ra vô số Hóa Thân như Trời, Rồng, Dạ Xoa, La Sát, Quỷ Vương,… mà hóa độ chúng sanh được vì rõ ràng các cõi này không ăn chay.

    Tóm lại đại đức TPT đang dùng trạng thái của Bò, Dê, Cừu,…mà áp cho hành giả Bồ Tát Giới. Lẽ nào Bồ Tát chỉ hóa độ được các loại chúng sanh này, vì chúng ăn chay, còn các chúng sanh khác thì không? Kinh khủng hơn nữa, lời của thầy Thích Phước Tiến như vậy là mang ý phỉ báng Phật không có Bồ Tát Giới vì Ngài ăn không chay không mặn. Mong rằng đại đức TPT xem lại nếu không sẽ rơi vào phỉ báng Chư Phật, chư Bồ Tát vì chủ quan tin theo tâm ý mình.

    1. Pháp đệ tán đồng đạo huynh Mật Diệu Hằng rằng cho hành giả Bồ Tát không được minh oan là điều sai lầm. Chẳng lẽ những hành giả “tác pháp chiếu quang, đả tà xây chánh”tránh cho chúng sanh phỉ báng thì bị xem là Sai, còn những kẻ “im lặng như bầy cừu” thì thành Bồ Tát ư? Chắc chắn không có một chuyện như thế.

    Kinh Pháp Cú, Đức Phật đã chỉ rõ quả báo của kẻ miệt thị các Tuệ Tri Thức rằng:

    “Kẻ ngu si miệt thị,

    Giáo pháp bậc La-hán,

    Bậc Thánh, bậc Chánh Mạng.

    Chính do Ác Kiến này,

    Như loại quả cây lau

    Mang quả tự hoại diệt.”

    Ngài Tịch Thiên cũng đã cảnh báo rằng: “Kẻ nào ác ý với một Bồ Tát trong bấy nhiêu giây thì sẽ đọa địa ngục bấy nhiêu kiếp”.

    Lẽ nào một Bồ Tát thấy chúng sanh phỉ báng, rơi vào Ác Kiến gây hậu quả trầm luân mà lại im lặng cho chúng sanh rơi vào biển khổ? Từ bi của Ngài ấy ở đâu? Trong trường hợp im lặng vì muốn tránh “Vinh-Nhục, Khen-Chê, Sướng-Khổ” thì đâu còn là một Bồ Tát nữa. Thầy dạy “Im lặng là vàng; Mở miệng là kim cương”. Trong trường hợp im lặng những cái không đáng im lặng, im lặng để che dấu tội lỗi của mình thì quả là “im lặng là vàng dẻo” chứ chẳng phải cao siêu gì như đại đức nói.

    1. Đại đức TPT nói người cư sĩ không được nhận lễ vật cúng dường, điều này chẳng thấy trong kinh nào nói. Tức là chỉ có tăng sĩ mới được nhận. Thật là điều vô lý.

    Trong 6 pháp vị Thầy giảng về người thọ nhận cúng dường, có nói rằng :

    +Người thọ nhận đã diệt tham hay đang cố gắng diệt tham

    +Người thọ nhận đã diệt sân hay đang cố gắng diệt sân

    +người thọ nhận đã diệt Si hay đang cố gắng diệt si.

    Mà Tham, Sân, Si diệt như thế nào là tùy vào phương pháp chứ không tùy thuộc vào hình tướng là tăng sỹ hay cư sĩ. Thêm vào đó, Phật đã cấm Phật Tử không được cúng dường cho những kẻ tỳ kheo Phá Giới trong kinh Đại Bát Niết bàn rằng:

    “Nếu biết rõ vị tỳ kheo nào đó trong tăng đoàn phá giới. đừng vì lẽ người ấy mặc áo cà sa mà cung kính lễ bái.”

    Như vậy có thể thấy không lý gì một người cư sĩ Bồ Tát giới không được nhận cúng dường còn tăng sĩ thì thoải mái. Những kẻ Tăng Sĩ mà đầy rẫy Tham, Sân, Si, gieo rắc Tà Kiến cho chúng sanh thì nhận cúng dường còn bị mất phước và sẽ sớm nhận lấy hậu quả bất chánh của họ,

    1. Pháp đệ thật sự bải hoải với việc thầy Thích Phước Tiến cho rằng ai đã thọ Bồ Tát Giới thì không được phát nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đức Phật Thích Ca chắc chắn không thuyết như vậy. Phật A Mi Đà cũng không cấm các Bồ Tát vào cõi Ngài trong 48 đại nguyện. Thầy Thích Phước Tiến như vậy tức là dang phỉ báng tất cả các Bồ Tát ở cõi Cực Lạc, như Ngài Quán Thế Âm, Đại Thế Chí,… cả Phật A Mi Đà là ích kỷ hay sao? Thật là một sự vọng ngữ không tưởng.

    Pháp đệ tán đồng lời đạo huynh Mật Diệu Hằng rằng, khi sanh vào trong cõi Tây Phương Cực Lạc, hành giả có nhiều thuận lợi để phát triển đạo nghiệp Bồ Tát Hạnh của mình. Có nói rằng một Bồ Tát Sơ Địa có thể tạo ra 100 Hóa Thân để độ sanh, Bồ Tát Nhị Địa có thể tạo ra đến 10.000 hóa thân…. Tuy nhiên, nếu còn bị kẹt lại ở trong luân hồi thì đến ngày tháng nào ta mới đạt đến nổi những địa này? Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc đầy lợi lạc như vậy mà thầy Thích phước Tiến lại xỉa xói con đường ấy xa rời với Bồ Tát Đạo.

     

    Pháp đệ không khỏi nhớ đến trong “Đại Trí Độ Tín Luận”, Phật dạy rằng:

    “Người vọng ngữ trước tiên là tự dối gạt mình, rồi mới dối gạt người. Cho thực là hư, cho hư là thực. Hư thực điên đảo thì không thể lãnh thọ thiện pháp như cái bình úp ngược nước không thể chảy vào được.

    Người nói vọng ngữ tâm không biết hổ thẹn, đóng bít con đường Nhân Thiên và cửa ngõ đi đến Niết Bàn. Quán biết tội lỗi này rồi, thế nên đừng nói vọng ngữ.”

     

    Pháp đệ đồng ý với đạo huynh Mật Diệu Hằng rằng, thầy TPT đang thể hiện những lập luận hết sức vọng ngữ như hạng “Bồ tát giả danh” mà Phật đã cảnh báo. Mong ông ấy còn có chút tàm Quý nào thì quán xét và gỡ bỏ những bài “Phật Pháp ứ đọng” đầy tai hại này của mình xuống.

    Cầu nguyện đạo huynh MDH hanh thông, thành tựu ước nguyện chính đáng.

    Cầu nguyện sức khỏe Thầy Cô trường thọ.

    Cầu nguyện chúng sanh có một đức khiêm nhường và tính hổ thẹn.

    Om Ah Hum

     

     

  4. Mật Linh Nguyên says:
    Từ bài phản biện của huynh đã cho mọi người thấy rõ một điều : trí tuệ và bồ đề tâm không phụ thuộc vào hình tướng bên ngoài cũng không phụ thuộc vào vị trí, giáo phẩm của người tu của cả hai tăng tục như Đức Liên Hoa Sinh đã khai thị “ Bậc giác ngộ hiện thân với hình dạng bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, đội lốt tu hành, đừng lầm đồng là vàng””

    Hai phẩm chất này phụ thuộc vào mong muốn đạt đến giác ngộ của mỗi người, từ mong muốn đó mà động cơ  có sai biệt khác nhau:

    1/ Dù với điều kiện xuất gia, nhưng không có mong muốn đạt giác ngộ thì tâm người đó vẫn chỉ chìm nghỉm trong biển dục vọng, họ sử dụng chiếc đầu trọc, chiếc y và thuộc lòng  giáo lý và sẵn sàng lái pháp theo nhu cầu để  làm phương tiện tạo đời. Ngôi chùa, tự viện, giảng đường … đều là không gian kiếm sống và tạo lập các kế hoạch thu lợi. Hạng này không hề có tâm tàm quý, mục tiêu của họ là ngũ dục và sự thỏa mãn ngũ dục

    2/ Tuy là còn sống trong đời tục nhưng với mong muốn đạt giác ngộ , họ nỗ lực sử dụng mọi chất liệu đời sống làm nguyên nhân để tu tập, kiên quyết bảo vệ chánh pháp và giúp người khác nhận thức được giá trị của chánh pháp và giải thoát tối hậu. Mục tiêu của họ là thể nhập vào dòng chảy của Pháp, đạt đến giác ngộ

    Đọc bài phản biện sắc sảo và vững chãi bởi chánh pháp này, lại mục sở thị sự thuyết giảng của ông thích phước tiến có một sự phẫn nộ dâng lên. Trong tay ông ấy, giáo lý Phật đà “ Duy tuệ thị nghiệp” đã chuyển thành “ duy tăng, duy chay … thị nghiệp”.

    Thì ra đây chính là lý do cả ngàn năm nay, mặc dù Phật pháp cực nhiệm màu và khả năng phóng thích con người ra khỏi xiềng xích của tà kiến,đau khổ, nhưng tại sao chúng sinh vẫn mãi còn lưu lạc trong đó? Thì ra do chính những loại người  vô tàm  bất quý mà thành nông nỗi này. Để xác lập một sự thống trị về tâm linh, một sự khu biệt giữa tăng tục và những đặc quyền , hạng này bất chấp nhân quả, xuyên tạc chân lý, làm chảy máu giáo lý, phỉ báng sự hy sinh và còn đường của Phật .Thật đúng “ thời mạt pháp tà sư nhiều như cát sông Hằng”. Ngẫm mới thấy tác hại to lớn của những người mang danh sứ giả Như Lai mà tâm địa lại thuộc phường giá áo túi cơm cam tâm tôi đòi cho ma vương khiến hàng ngàn năm qua ánh sáng Phật pháp đến với chúng sinh bị ngăn trở

    Nhưng tại sao những hạng người này có thể đạt được mục đích như vậy, cũng là bởi nghiệp sâu dày của chúng sinh, họ quá bám chấp vào hình tướng, họ tin tà pháp, tà thuyết của những kẻ hai mang này mà không tin chánh pháp thật sự. Đây cũng là cái giá họ phải trả cho sự bất minh, thói đạo đức giả. Họ cam chịu im lặng trước tà kiến, tà quyền  bởi sự nô lệ của mình, và rồi trước chánh kiến chánh pháp họ lại tỏ ra bàng quan không hơn, thậm chí còn quay ngược lại để chống phá. Sự bạc nhược này đã  biến họ thành nô lệ để cho những kẻ kia đạt mục đích của mình.

    Vậy mới biết sao chúng ta luôn không ngờ mình lại có thể trở nên may mắn như vậy.

    Đệ cầu mong chánh pháp Phật đà qua kênh vận chuyển của Thầy thắp sáng muôn nơi !

    OM MANI PADME HÙM !

  5. Mật Ba says:
    Mô Phật!

    Mật Ba hoan hỷ tán thán công đức tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng đã Phản Biện Những Lỗi Sai Của Đại Đức Thích Phước Tiến Trong Luận Giải Về Giới Luật.

    Trong bài giảng mà Đại đức Thích Phước Tiến giảng giải đã làm sai lệch nhiều vấn đề quan trọng nhằm gia tăng vị thế của các vị tỳ kheo xuất gia và dìm hàng cư sĩ mà đạo huynh Mật Diệu Hằng đã đưa những luận chứng luận cứ chứng minh. Ở nội dung sau khi quy y Phật tử phải tôn trọng các vị tỳ kheo xuất gia. Nhưng ông quên rằng Phật đã từng dạy ” Nếu biết vị tỳ kheo nào trong tăng đoàn phá giới mà đùng vì lẽ người ấy mặc áo cà sa mà tỏ lòng tôn kính lễ bái”.  Đã vậy Đại Đức Thích Phước Tiến còn giảng cổ súy việc ăn chay trường mới thọ giới Bồ tát. Trong khi Đức Phật dạy ” Duy  tuệ thị nghiệp” chứ không phải duy ăn chay thị nghiệp, duy cà sa thị nghiệp. Đại Đức Thích Phước Tiến đã đưa những hình thức bên ngoài của các tỳ kheo xuất gia để giảng giải cho cư sĩ gây sự khó khăn và ngăn cản người đạt đến sự toàn giác.  Ông cố tình làm khó cho cư sĩ đưa vị trí của tu sĩ lên cao để cư sĩ không thực hiện được mà chấp nhận làm công quả, phục vụ cúng dường cho tu sĩ. Trong khi Đức Phật đã dạy “tứ chúng đồng tu”  tất cả “chúng sanh đều có Phật tánh” “ta là Phật đã thành các ông là Phật sẽ thành”  và Đại Sĩ Liên Hoa Sanh cũng xác quyết “không ai sở hữu được Pháp trừ những ai tinh tấn thực hành Pháp”.  Chứ các Ngài không minh định tăng sĩ có vị trí cao hơn cư sĩ.

    Con xin cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô.

    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.

    Om ah hum!

     

  6. Mật Thiệu says:

    Kính bạch Thầy!

    Con đã đọc xong bài này và comment của Thầy rồi ạ!

    Mô Phật !

    Pháp đệ tán thán thiện hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng qua bài tác pháp chiếu quang cho đại đức Thích Phước Tiến. Qua bài này, huynh đã chỉ ra những lỗi sai của đại đức Thích Phước Tiến khi luận giải về giới luật. Trong bài giảng thứ nhất, ông ta cố ý nêu cao vai trò tăng sĩ, hạ thấp vai trò của cư sĩ khi khuyên đồ chúng chỉ quy y với tăng ni. Còn đâu là tinh thần tứ chúng đồng tu theo lời Phật dạy, như thế chẳng phải nào “dìm hàng” cư sĩ sao, nhưng trong thực tế có nhiều vị cư sĩ chứng đắc. Tới bài giảng thứ 2, ông ta cổ súy cho việc ăn chay trường khi cư sĩ thọ Bồ tát giới, ông ta cho là trường chay mới đủ tư cách nhưng mà Phật dạy “Duy tuệ thị nghiệp” chứ đâu có “Duy thực thị nghiệp” mà ông ta cứ lấy ăn chay làm mục tiêu tu tập. Đệ tâm đắc câu hỏi của huynh ” Vậy trong trường hợp này tôi thắc mắc nếu đã hóa thân là tướng cướp hay tú bà để giáo hóa chúng sanh thì làm sao có thể trường chay?”. Qua những vụ việc thầy tu giảng tràn lan cho chúng sanh , chúng ta cần phải trang bị cho mình ” trạch pháp nhãn” để nhìn thấu đáo bản chất của mọi việc. Không phải thầy tu nào cũng biết giảng pháp, biết giảng nhưng chưa chắc là giảng đúng chánh pháp.

    Con cầu nguyện Thầy, Cô nhiều sức khỏe, trụ thế dài lâu vì lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện đạo huynh Mật Diệu Hằng thành tựu mọi ước nguyện.

    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu trạng thái tuyệt đối.

    Om mani padme hum.

  7. Mật Phước says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc bài “Tác Pháp chiếu quang” của đạo huynh Mật Diệu Hằng cho thầy Thích Phước Tiến và comment khai thị của Vị Thầy rồi ạ.
    Qua đó rõ ràng cho con thấy được thầy Thích Phước Tiến đã lợi dụng chữ “Tăng” để cố tình cỗ súy cho đặt quyền tâm linh, nâng cao vai trò tăng sĩ và ép buột cư sĩ phải hạ mình để tôn trọng vai trò tăng sĩ, đi ngược tinh thần ” tứ chúng đồng tu” mà Đức Phật chỉ ra, chẳng khác nào áp đặt cho người tu cư sĩ chỉ là nô lệ tâm linh, chỉ có nghĩa vụ là cúng dường hoặc chỉ có thể làm công quả cho chùa của thầy thôi.
    Đúng là lố bịt, trong khi chữ “Tăng” ở đây là thanh tịnh nơi tâm. Chứ nào phải đầu trọc, đắp áo cà sa mà cho là tăng, trái lời Phật dạy ” Duy tuệ thị nghiệp ” để tin vào tâm ý của mình thuyết giảng tà kiến, cản trở người khác thực hành Bồ tát đạo như thầy Thích Phước Tiến đây.
    Càng trơ tráo hơn, khi ” thầy Thích Phước Tiến khẳng định đức Phật không dạy cúng bái và thầy cũng khẳng định trong vòng 49 ngày, hương linh sẽ tái sinh nhưng thầy vẫn khuyến khích cúng bái vì đó là đạo lý, là tín ngưỡng, là văn hóa truyền thống “, người quy y Phật là thân phận cao quý thì không thờ “thiên, thần, vật” . Trong khi thầy Thích Phước Tiến mang danh phận đệ tử Như Lai trong tăng sĩ cố dành vai trò xiểng dương giáo Pháp, nhưng lại không chỉ cho đồ chúng cách tu tập để giải thoát của Đức Phật mà ông đi khuyến khích cúng bái theo ngoại đạo. Con thiết nghĩ, không lẽ đây là cách để gợi ý đồ chúng cúng “cầu siêu” để thầy có dịp ra tay chăng ? Tu Phật là giải thoát, lẽ nào thầy Thích Phước Đức cũng có nhiều mánh khóe để tìm nguồn thu nhập? Nếu vậy thì thầy có khác chi người thường cạo đầu, mặt áo vàng cho cho lạ mắt, cho khác người để thu hút sự chú ý mà chờ cơ hội trục lợi , nếu vậy thì thật đúng như trong Luật Ma Ha Tăng Kỳ, đức Phật đã chỉ rõ:
    “Trong không lìa si ám.
    Ngoài giả mặc Cà-sa.
    Lòng ôm ấp độc hại,
    Không đáng mặc Cà-sa.
    Thiền định trong vô tướng
    Vĩnh viễn diệt phiền não.
    Nội tâm thường vắng lặng
    Mới đáng mặc Cà-sa”.
    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô.
    Cầu mong tất cả chúng sanh tỉnh thức với trạng thái giác ngộ.
    Om Mani Padme Hum.
  8. Mật Tuyết Hoa says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết và comment khai thị của vị Thầy.

    Con hoan hỷ tán thán thiện hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng đã tác pháp chiếu quang đến những bài giảng đầy tà kiến đến chúng sanh. Đọc những luận chứng, luận cứ của đạo huynh mà đệ bải hoải vì những điều kinh khủng mà đại đức Thích Phước Tiến đã tự tin vào tâm ý mình mà luận giải. Qua hai bài giảng của thầy Thích Phước Tiến đã được đạo huynh chỉ ra không đưa được tiêu chuẩn để hướng dẫn giúp chúng sanh giải thoát và đạt giác ngộ. Mang danh là sứ giả Như Lai, được nhận cúng dường từ các Phật tử mà ông ấy không nhớ ơn, nhiệm vụ là giảng pháp cho chúng sanh, khuyến tấn họ tu học thì ông ấy lại gây cản trở chí nguyện bằng cách ăn chay, cách ly gia đình… Dù đã tu học rất lâu nhưng tâm không xoay chuyển nên thị hiện ra bên ngoài vẫn là cái giọng eo éo thế mà dám khẳng định cũng như cản trở các cư sĩ trên con đường tu học để giải thoát. Dù là mang họ Thích, nếu Như Lai dùng nhiều phương tiện thiện xảo  để chúng sanh được tiếp cận chánh pháp thì ông ấy lại cố dùng ba tấc lưỡi của mình cũng với diện mạo “ đầu tròn áo vuông” bên ngoài để ngăn cản chúng sanh tu tập, để độc tôn vị trí tăng sĩ thì thật không đáng được mang họ Thích và khoác áo tu tập như trong “Luật Ma Ha Tăng Kỳ” Đức Phật đã dạy rõ: Trong không lìa si ám/ Ngoài giả mặc Cà sa/ Lòng ôm ấp độc hại/ Không đáng mặc Cà Sa”

    Pháp đệ cám ơn bài viết tác pháp chiếu quang lợi lạc của đạo huynh Mật Diệu Hằng. Nguyện cầu đạo huynh luôn tinh tấn vui tu, thong dong trên đạo lộ giải thoát và mọi ước nguyện đúng chánh pháp sớm viên thành.

    Con thành tâm nguyện cầu Thầy Cô trụ thế lâu dài tiếp tục công cuộc hoằng dương chánh pháp, lợi lạc chúng sanh.

    Nguyện cầu tất cả chúng sanh có đức khiêm tốn và ý thức hổ thẹn.

    Om Mani Padme Hum.

  9. Mật Ngã says:
    Kính bạch Thầy!

    Con đã đọc bài viết này và comment của Thầy rồi.

    Mô Phật!

    Mật Ngã hoan hỷ tán thán thiện hạnh tác pháp chiếu  quang của Mật Diệu Hằng.

    Đọc qua bài viết này Mật Ngã đã hiểu được phần nào vì sao nhiều người tu không dám phát nguyện vãng sanh và cũng không biết phát nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc quốc. Bởi ai mà phát nguyện thì bị thầy Thích Phước Tiến chê bai, chỉ trích là nhát, là ích kỷ…. rồi lâu ngày dài tháng niệm tưởng phát nguyện vãng sanh ấy của người tu dần tắt lịm.

    Trong 48 Đại nguyện của Đức Phật A Mi Đà và 12 Đại nguyện của Quán Âm Bồ Tát có đại nguyện tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Thầy Thích Phước Tiến nói như thế chẳng khác nào bất kính, phỉ báng Đức Phật A Mi Đà và Quan Âm Bồ Tát là không từ bi với chúng sanh, tiếp tay giúp cho người tu trở nên hèn nhát, ích kỷ? Nếu so về lòng từ bi và trí tuệ thì thầy Thích Phước Tiến với Đức Phật, Bồ tát thì tựa như hạt cát so với sa mạc. Lẽ nào lòng Đại từ, Đại trí của các Ngài như thế mà lại không biết chỉ ra cách nào để cứu giúp chúng sanh mà phải đợi thầy TPT phải “chỉ dạy” hay sao? Qua cách nói đó quả thật không thể che dấu được sự ngạo mạn khinh thường chư Phật, Bồ tát của thầy. Thật nguy hại!

    Cầu nguyện chúng sanh dừng lại các ý niệm bất thiện. Om Ah Hum!

  10. Kính Bạch Thầy

    Con đã đọc bài viết tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng và comment của vị Thầy rồi ạ.

    Con xin hoan hỷ và tán thán công đức  của đạo huynh Mật Diệu Hằng đã tác pháp chiếu quang đến vị  tỳ kheo  Thích Phước Tiến .

    Nghe qua những gì mà vị mang danh  đại đức này rao giảng mà con không khỏi bị sốc bởi mức  độ kinh khủng và  nguy hại của ông ta đang dẫn dắt chúng sanh vào con đường mê lầm khi mà ông ta đang đề cao vị thế vai trò của tăng sĩ và dìm hàng người tu cư sĩ  .Thật nguy hại khi ông ta bất chấp luật nhân quả mà  tự ý lập ngôn  làm cho chúng sanh hiểu sai lệch về những lời Phật dạy  như Đức Liên Hoa Sinh đã khai thị “ Bậc giác ngộ hiện thân với hình tướng  bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, đội lốt tu hành, đừng lầm đồng là vàng””

    Với  chất giọng eo éo khi thuyết  giảng đã làm lộ rõ nguyên hình ông ta là người như thế nào, qua đó giúp con hiểu thêm về lời dạy của Đức Phật về những người “hoàng môn ” tuy được tu mà tu không được. Nguy hại hơn khi họ bám víu vào các chùa to cổng lớn khoát lên mình chiếc áo cà sa của nhà Phật với đầu tròn áo vuông và cho mình là Tăng với tâm thanh tịnh rồi  làm trái với những lời Phật đã dạy là ” tứ chúng đồng tu ” mà đề cao vai trò vị thế của tăng sĩ đặt ra các rào cản dìm hàng người tu cư sĩ nhằm mục đích phục vụ  cho thanh danh lợi dưỡng cho bản thân , ngăn cản con đường tu tập và dẫn dắt chúng sanh vào con đường khổ đau của luân hồi.

    Con xin thành tâm cầu nguyện cho  sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì đại nghiệp hoằng dương chánh pháp và lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho đạo huynh Mật Diệu Hằng và gia đình được nhiều sức khỏe luôn hanh thông trên đường đời lẫn đường đạo và vạn sự kiết tường.

    Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được đức tính khiêm tốn và ý thức thổ thẹn.

    Om Mani Padme

  11. Kính Bạch Thầy

    Con đã đọc bài viết tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng và comment của vị Thầy rồi ạ.

    Con xin hoan hỷ và tán thán công đức  của đạo huynh Mật Diệu Hằng đã tác pháp chiếu quang đến vị  tỳ kheo  Thích Phước Tiến .

    Nghe qua những gì mà vị mang danh  đại đức này rao giảng mà con không khỏi bị sốc bởi mức  độ kinh khủng và  nguy hại của ông ta đang dẫn dắt chúng sanh vào con đường mê lầm khi mà ông ta đang đề cao vị thế vai trò của tăng sĩ và dìm hàng người tu cư sĩ  .Thật nguy hại khi ông ta bất chấp luật nhân quả mà  tự ý lập ngôn  làm cho chúng sanh hiểu sai lệch về những lời Phật dạy  như Đức Liên Hoa Sanh đã khai thị “ Bậc giác ngộ hiện thân với hình tướng  bất định, kẻ hạ trí lừa dối là bọn đạo đức giả, đội lốt tu hành, đừng lầm đồng là vàng””

    Với  chất giọng eo éo khi thuyết  giảng đã làm lộ rõ nguyên hình ông ta là người như thế nào, qua đó giúp con hiểu thêm về lời dạy của Đức Phật về những người “hoàng môn ” tuy được tu mà tu không được. Nguy hại hơn khi họ bám víu vào các chùa to cổng lớn khoát lên mình chiếc áo cà sa của nhà Phật với đầu tròn áo vuông và cho mình là Tăng với tâm thanh tịnh rồi  làm trái với những lời Phật đã dạy là ” tứ chúng đồng tu ” mà đề cao vai trò vị thế của tăng sĩ đặt ra các rào cản dìm hàng người tu cư sĩ nhằm mục đích phục vụ  cho thanh danh lợi dưỡng cho bản thân , ngăn cản con đường tu tập và dẫn dắt chúng sanh vào con đường khổ đau của luân hồi.

    Con xin thành tâm cầu nguyện cho  sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì đại nghiệp hoằng dương chánh pháp và lợi lạc chúng sanh.

    Cầu nguyện cho đạo huynh Mật Diệu Hằng và gia đình được nhiều sức khỏe luôn hanh thông trên đường đời lẫn đường đạo và vạn sự kiết tường.

    Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được đức tính khiêm tốn và ý thức thổ thẹn.

    Om Mani Padme Hum

  12. Phạm Phương says:
    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ.

    Con xin cảm ơn bài viết của đạo hữu Mật Diệu Hằng. Khi con phát tâm cầu pháp thì con mới thấy thấm thía lời Phật dạy thời kỳ mạt pháp :’tà sư nói pháp như cát sông Hằng’. Nếu không đủ phước thật không dễ gì gặp được bậc chân tu giảng chánh pháp. Con xin cảm ơn và tán thán công đức vị Thầy cùng các đạo hữu đã có những bài viết đả tà xây chánh để cho chúng con phân biệt và đi đúng chánh pháp.

    Con cầu nguyện tất cả chúng sanh được giải thoát.

     

  13. Mô Phật

    Pháp đệ hoan hỷ với thiện hạnh tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng dành cho đại đức Thích Phước Tiến. Chưa bàn đến nội dung bài giảng của ông ta, nguyên việc chứng kiến chất giọng tựa hoàng môn cùng với những động tác chỉ tay, hất tay đầy liên tục của ông ta khiến đệ thật khó kiên nhẫn xem hết clip. Cũng giống Đại đức Thích Thiện Thuận, TT. Thích Nhật Từ, không khó để thấy nội dung bài giảng của vị này dù giảng về bất kỳ đề tài nào, cuối cùng chỉ nhăm nhăm một mục đích chính, đó là dìm hàng cư sĩ để đề cao vai trò tăng sĩ mà thôi. Giảng pháp cho người tu cư sĩ nhưng lại lấy giới luật dành cho tăng sĩ ra áp dụng, giảng về Bồ đề tâm nhưng lại không hiểu thấu đáo các khía cạnh của Bồ đề tâm, giảng về Bồ tát giới nguyện nhưng lại không hiểu thấu đáo về Bồ tát giới nguyện. Chỉ lấy một ví dụ nhỏ về việc ĐĐ. Thích Phước Tiến này cho rằng các Bồ tát phát nguyện vãng sanh về Tây phương cực lạc là ích kỷ. Phải chăng đại đức này chưa từng nghe rằng một trong những giới nguyện Bồ đề tâm chính là: “Cho rằng các Bồ tát nên trụ trong luân hồi” chăng? Bởi nếu vị ấy nghĩ rằng các Bồ Tát không nên cầu thoát luân hồi, không nên sợ và tránh phiền não, là vi phạm giới nguyện phụ này. Lối suy nghĩ như vậy chứng tỏ không hiểu biết đúng tính chất của luân hồi, phiền não và Bồ Tát Ðạo. Những lập luận sắc bén cùng với những trích dẫn đắt giá từ kinh điển và lời dạy của chư thánh tăng đã lột trần bộ mặt của một “kẻ ngu tưởng mình trí” như Thích Phước Tiến. Cảm ơn đạo huynh về bài viết này

    Con cầu nguyện cho sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh

    Cầu nguyện đạo huynh Mật Diệu Hằng và gia đình sức khỏe, đạt thành tựu những ước nguyện chính đáng

    Cầu nguyện chúng sanh tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ

    Om Ah Hum

  14. Mô Phật,

    Mật Từ hoan hỷ tán thán thiện hạnh và công đức tác pháp chiếu quang cho đại đức Thích Phước Tiến của đạo huynh Mật Diệu Hằng. Những ngày này, khi nội dung các bài giảng pháp của các thầy được đem ra để “mổ xẻ”, Mật Từ mới thật bàng hoàng với khả năng “chém gió” của các thầy. Nếu dựa trên những nội dung chính mà thầy Thích Phước Tiến chia sẻ thì chẳng khác nào thầy đang làm dịch vụ quảng cáo chuyên nghiệp cho chuỗi kinh doanh nhà hàng cơm chay. Nếu ăn cơm chay mà đem lại nhiều lợi lạc như vậy thì thử hỏi vì sao theo lý nhân quả những nước không ăn chay lại phát triển đến vậy, những người không ăn chay mà cuộc sống vẫn tốt đẹp chứ nào gặp phải những tai ương? Điều gì làm nên sự khác biệt của người ăn chay và người không ăn chay? Trường hợp người không ăn chay mà lập luận trước sau như một, đúng quỹ đạo chánh pháp còn người ăn chay mà phỉ báng chánh pháp, trước sau bất nhất, trí tuệ không phát triển thì thầy giải thích ra sao? Chẳng qua điều khác biệt là dạ dày khác nhau và những dạ dày đó thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác trong luân hồi chứ dạ dày không giúp chúng sanh nhận chân ra bản chất của sự vật hiện tượng qua lăng kính nhà Phật và không giúp chúng sanh giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Lấy “ăn chay” làm tâm điểm, thầy Thích Phước Tiến vẽ một vòng tròn xung quanh để bảo vệ những “thế mạnh” của các thầy và lấy đó làm “khuôn vàng thước ngọc” cho việc tu tập. Như vậy có khác nào thầy đang dựng lên một bức tường chuyên chế và độc quyền do riêng mình các thầy sáng tác? Bởi lẽ điểm chung trong các bài của các thầy là nói khơi khơi mà không có luận chứng, luận cứ, trích dẫn kinh điển Phật giáo. Mỗi thầy lại nói theo một kiểu khác nhau, không thầy nào liên quan đến thầy nào. Có lẽ đó cũng là lý do mà các thầy dễ dàng “bỏ qua” cho nhau trong khi nhiều luận điểm trái ngược (và ai cũng được gọi là thượng toạ, đại đức). Vậy khi các thầy vẽ ra ranh giới cho bồ tát phải làm thế này, thế kia thì ai là người quy định tiêu chuẩn chung cho các thượng toạ, đại đức?! Trong khi rõ là những điều mỗi thầy nói đều có sự lập luận bất nhất và luận điểm giữa các thầy với nhau thì lại càng loạn lạc?! Không biết đâu mà lần.

    Cầu nguyện tất cả chúng sanh có được ý thức khiêm tốn và hổ thẹn.

    Om Mani Padme Hum.

    • Nguyên Thành says:

      Họ loạn ngôn nên đồ chúng chẳng thể nào hiểu nên làm gì, ăn như thế nào, tu như thế nào!

  15. Mật Thái Hoà says:
    Kính Bạch Thầy.

    Con đã  đọc xong bài tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng cho những lỗi sai chánh pháp  của đại đức Thích Phước Tiến trong luận giải về giới luật rồi ạ.

    Pháp đệ hoan hỷ tán thán thiện hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng đã có bài tác pháp chiếu quang cho những luận điểm sai quỹ đạo chánh pháp trong giảng luận của đại đức Thích Phước Tiến. Với tiêu đề bài giảng là ” Lời chia sẻ với những Cư sĩ thọ Bồ tát giới” nhưng đại đức Thích Phước Tiến không hoan hỷ với thiện hạnh, thực hành Bồ tát đạo của những cư sĩ tại gia,  mà lại còn cản trở hành giả tại gia thực hành Bồ tát đạo, qua chuyện  áp đặt việc ăn chay, trường chay cho dù mất mạng và bỏ vợ, bỏ con xa gia đình để thọ Bồ tát giới, nếu không được thì thôi. Như vậy là sự cản trở, gây khó khăn cho chúng sanh muốn đạt đến sự toàn giác.

    Qua đó cho thấy đại đức Thích Phước Tiến quá chấp pháp,cứng nhắc, thể hiện sự yếu kém trong phương pháp sư phạm, giảng dạy  không phù hợp với tính quốc độ, tính thời, tính dân tộc, hoàn cảnh sống và căn cơ của người tu Phật. Đại đức Thích Phước Tiến sử dụng giáo pháp đúng nhưng lại áp dụng phương pháp sai thì làm sao có thể giáo hoá chúng sanh tu tập giải thoát, làm sao giúp cho chúng sanh có được sự hanh thông thế sự, hạnh phúc gia đình, thành đạt xã hội, mà thể hiện đời đạo song hành, tốt đời đẹp đạo.

    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì hạnh phúc của chúng sanh.

    Cầu mong cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om Mani Padme Hum.

  16. Thưa Thầy!

    Con đã đọc xong bài này rồi ah. Mật thúy rất hoan hỉ với thiện hạnh tác pháp chiếu quang của đạo huynh Mật Diệu Hằng dành cho ông Thích Phước Tiến  qua bài này Mật thúy hiểu được rằng Thầy giảng pháp hai chưa chắt là đúng chánh pháp và lúc đức Phật ngày còn tái thế  ngày cũng không dùng chay trường  và dùng tam thịnh nhục mà ông Thích Phước Tiến giảng nối là người tu thọ bồ Tác giới  mà không ăn chay thọ làm chi tôi thật bắt ngờ khi ông là người cản trở thiện hạnh của người khác  Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của thầy cô vì lợi lạc của chúng sanh Om ah hùm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status