Feb 16, 2016

Posted by in Giáo điển, Trang chủ | 40 Comments

Thư Hà Nội: Thực nghĩa về BIỆN CHỨNG TÂM LINH (Bài mở)

Thư Hà Nội: Thực nghĩa về BIỆN CHỨNG TÂM LINH (Bài mở)

Các trò thân mến!

Trở về từ cuộc họp mặt Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng và thực hành Yoga Tây Tạng ở TP HCM, trò Mật Diệu Hằng gửi đến Thầy những luận giải về biện chứng tâm linh mà mình tuệ tri qua lăng kính chánh tư duy. Thầy hoan hỷ và trân trọng giới thiệu…

CUỘC HẠNH NGỘ GIỮA NHỮNG NHÀ KHOA HỌC

hop mat

“Họp mặt hội viên – Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng”

Tham dự pháp hội lần này, con không khỏi bồi hồi xúc động khi nhìn dòng chữ: “Họp mặt hội viên – Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng”; những dòng chữ sáng rực với những bông mai vàng đón chào xuân về tô điểm trên nền xanh đậm tạo cho người đối diện cảm giác lâng lâng khó tả. Con cảm nhận rõ một mùa xuân Di Lặc đang tràn khắp hội trường với hương đạo người tu tỏa khắp muôn nơi, mang ngọn đuốc trí tuệ của Mật gia song Nguyễn tạo nên cánh buồm chánh pháp đưa những ai hữu duyên đến bến bờ giác ngộ.

Còn nhớ hơn một tháng trước, nhận lời mời của Tiến sỹ Vũ Thế Khanh đến tham dự buổi tiệc tất niên ấm cúng tại trụ sở của Liên hiệp hội khoa học và ứng dụng tin học – UIA, con được Thầy cử làm đại diện cho Trung tâm để hạnh ngộ các nhà khoa học tại Liên hiệp hội như một lời tri ân đối với những phật tử cùng trên một chiến tuyến tâm linh chống lại mê tín dị đoan, đưa đạo Phật trở về thực nghĩa khoa học. Với tinh thần đó, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng đã tạo ra bước ngoặc của khoa học biện chứng tâm linh trong hành trình giác ngộ của mỗi con người.

Trên tinh thần “duy tuệ thị nghiệp”, đạo Phật trở thành đạo trí tuệ, giúp chúng sanh tìm về chân lý tối thượng và chữa dứt căn bệnh trầm kha gây đau khổ cho chúng sanh về thân ngữ tâm, nâng cao sức khỏe cộng đồng và đời sống tinh thần cũng như đời sống tâm linh khỏe mạnh. Đồng thời, hành trình giác ngộ mà đức Phật đưa ra là một con đường khoa học biện chứng tâm linh đem lại sự an vui cho loài người. Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng hoạt động theo tôn chỉ đó.

Hinh-Phat-A-Di-Da-8

“Ta không có quyền ban phước, giáng họa cho ai”

Trước hết, đạo Phật không phải là một tôn giáo như nhiều người lầm nghĩ. Theo định nghĩa về tôn giáo của bách khoa toàn thư mở như sau: “Tôn giáo hay đạo (tiếng Anh: religion – xuất phát từ tiếng Latinh religion mang nghĩa “tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh” hay “bổn phận, sự gắn kết giữa con người với thần linh”) – xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người), đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.” Trong khi đó, đức Thế Tôn đã từng tuyên bố rằng: “Ta không có quyền ban phước, giáng họa cho ai” và “quy y Phật không thờ thiên thần quỷ vật”. Ngoài ra, đức Phật nhấn mạnh niềm tin tự giác ngộ của Phật tử chứ không phải là dựa vào ai đó để đạt giác ngộ: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”, ngay bản thân đức Phật, ngài cũng nói rằng ngài đưa ra con đường giác ngộ cho chúng sanh nương vào đó tự tu tập để đạt giác ngộ chứ ngài không ban giác ngộ cho bất cứ ai: “Ta chỉ ra cho các ông con đường giải thoát, còn giải thoát hay không tùy thuộc vào các ông” (kinh Di giáo)”, và ngài cũng nói rõ: “Các con phải tự mình nỗ lực. Như Lai chỉ là đạo sư” (Kinh Pháp cú, kệ 276). Do vậy, ngài khuyến cáo chúng sanh trong kinh Di giáo: “Hỡi các tỳ kheo, các Thầy hãy là ngọn đuốc và nơi nương tựa cho chính mình. Các Thầy đừng phó thác vào một chốn dung thân nào khác. Các Thầy hãy cương quyết chủ định vào chân lý. Hãy lấy chân lý làm ngọn đuốc và nơi nương tựa cho mình”.

Chân lý của đức Phật là chân lý tối thượng, phản ánh đúng bản chất chân thật của sự vật hiện tượng với cái nhìn vô ngã, tâm quân bình để có được cuộc sống khỏe mạnh về thể chất, tinh thần cũng như tâm linh. Dưới đôi mắt trí tuệ nhà Phật cùng với đối tượng chủ đạo là tâm, đạo Phật trở thành một môn khoa học biện chứng tâm linh mang tính chất thực nghiệm, chứ không phải là một tôn giáo mê tín dị đoan, tin mù quáng vào thần thánh. Kinh Kalama nêu cao tinh thần không mê tín, cuồng tín, giáo điều, mà sáng suốt chấp nhận và thực hiện những điều mang đến hạnh phúc an vui cho mình cho người; đức Phật đã thuyết: “Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều gì mà điều đó là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Đừng tin tưởng những điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin một điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”. (Kinh Kalama – Tăng chi bộ I).

buddha

“Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”

Trên hành trình giác ngộ, hay trên hành trình tiệm tiến tìm ra chân lý, tìm ra sự thật tối thượng, các hành giả thực hành văn tư tu sau đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân và có sự xác nhận phù hợp với lẽ phải để có được hạnh phúc cho chính mình và tha nhân. Con đường đó được đức Phật chỉ dẫn gồm giáo lý đồ sộ của nhà Phật mang tính khoa học biện chứng, trong đó Yoga Tây Tạng là một đạo lộ đặc trưng.

om_mani_padme_hum

Con đường đó được đức Phật chỉ dẫn gồm giáo lý đồ sộ của nhà Phật mang tính khoa học biện chứng, trong đó Yoga Tây Tạng là một đạo lộ đặc trưng.

THỰC NGHĨA KHOA HỌC TÂM LINH CỦA ĐẠO PHẬT?

tu dien websterKhi nói về khoa học, cuốn tự điển Merriam Webster ra có 5 định nghĩa về khoa học như sau:

  1. Kiến thức thâu thập được bằng khảo sát và thực hành (Knowledge obtained by study and practice)
  2. Bộ kiến thức được hệ thống hóa (Department of systematized knowledge)
  3. Nghệ thuật hay sự khéo léo (Art and Skill)
  4. Một ngành học liên hệ đến sự quan sát và hệ thống hóa các sự kiện, nhất là liên hệ với sự thiết lập những định luật tổng quát có thể kiểm chứng được, chủ yếu bằng quy nạp và giả thiết (A branch of study concerned with observation and classification of facts, especially with the establishment of verifiable general laws, chiefly by induction and hypotheses)
  5. Kiến thức chuyên biệt tích tụ được hệ thống hóa và công thức hóa dựa vào sự khám phá ra những chân lý tổng quát hay sự vận hành của các định luật tổng quát (Specifically, accumulated knowledge systematized and formulated with reference to the discovery of general truths or the operation of general laws).

Đạo Phật nói chung và Yoga Tây Tạng nói riêng đi theo hành trình khoa học. Trong kinh Kalama, đức Phật cũng đã chỉ rõ: “Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”. Sự thật có được thông qua một quá trình thu thập kiến thức, khảo sát và thực hành những điều học được. Quá trình này chính là văn tư tu trong Yoga Tây Tạng; khởi đầu bằng quá trình nghe, đọc giáo lý về Yoga Tây Tạng là sự hợp nhất thân ngữ tâm, về ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và tánh không, mang lại cho con người cuộc sống khỏe mạnh, an vui;  sau đó nghiên tầm, đào sâu nghiên cứu, khảo sát và tìm ra những phương pháp, những cách tu tập phù hợp với hoàn cảnh bản thân, với môi trường, phù hợp với tính quốc độ, tính dân tộc, tính thời đại. Và cuối cùng là áp dụng các phương pháp thực hành cụ thể như 16 động tác bồ đề tâm, hành thiền trong không gian tĩnh và động. Khi thực hành một thời gian, hành giả sẽ có được kết quả tốt đẹp về thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt là tâm linh.

phat-giao-duoi-mat-tri-thucTrong quá trình tìm ra các phương pháp thực hành, vị Thầy tâm linh đã hệ thống hóa các giáo lý của đức Phật theo một trình tự lớp lang cụ thể. Bằng nhiều phương tiện thiện xảo áp dụng nghệ thuật sống tinh tế, vị Thầy dạy học trò cách quan sát mọi sự vật hiện tượng như nó đang là, hệ thống hóa, công thức hóa sau khi quan sát giúp học trò nhìn nhận được quy luật tổng quát của mọi sự vật hiện tượng: sinh – lão – bệnh – tử, vô thường cùng thời gian, cùng với sự thấu hiểu quy luật vô ngã, lý nhân duyên… Từ đó, con người không bám chấp vào những điều vô thường và đoạn trừ phiền não, tự tìm được hạnh phúc cho bản thân. Cũng vì thế mà H.G. Well trong tác phẩm Đạo Phật Dưới Mắt Các Nhà Trí Thức đã nói: “Phật giáo đã mang lại sự tiến bộ cho thế giới văn minh và văn hóa chính đáng nhiều hơn là bất cứ ảnh hưởng nào khác trong lịch sử của nhân loại”. (Buddhism has done more for the advance of world civilization and true culture than any other influence in the chronicles of mankind).

Đạo Phật nói chung và Yoga Tây Tạng nói riêng không những tư duy theo tiến trình khoa học mà trong quá trình tu học và thực hành Yoga Tây Tạng, hành giả còn thực hiện tinh thần tu tập trên nền tảng khoa học.

Tinh thần khoa học được biểu hiện như sau:

–         Dùng đầu óc, luận lý và thực nghiệm để ra khỏi sự ngu tối.

Trong Phật Giáo hay Yoga Tây Tạng nêu cao tôn chỉ “lấy tâm làm chủ, dùng trí làm đầu và duy tuệ thị nghiệp”; do vậy Yoga Tây Tạng dùng trí tuệ và thực chứng để phá bỏ vô minh. Phật giáo có một lưỡi gươm duy nhất để diệt một kẻ thù duy nhất: lưỡi gươm này là lưỡi gươm trí tuệ, và kẻ thù này là vô minh gây ra phiền não. Trong kinh Di Giáo, đức Phật đã thuyết:

“Này các tỷ kheo, nếu người có trí tuệ thì không có tham trước, thường tự tỉnh giác, không để sinh ra tội lỗi. Thế là trong pháp của ta có thể được sự giải thoát…

Người có trí tuệ chân thật, ấy là chiếc thuyền chắc vượt qua biển già, bệnh, chết; cũng là ngọn đèn chiếu sáng cảnh tối tăm mờ ám; là các món thuốc hay trị các thứ bệnh là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não.

Thế nên các ông phải dùng tuệ: Văn, Tư, Tu mà tự làm cho thêm phần lợi ích. Nếu người có trí tuệ chiếu soi, dù cho nhục nhãn thì cũng là người thấy được rõ ràng”.”.

Các nhà khoa học dùng trí tuệ, tư duy, lý luận và thực nghiệm để tìm hiểu chân lý, quy luật của mọi sự vật hiện tượng để tạo ra những công trình khoa học đem lại lợi ích cho nhân loại.

lotus_buddha

Trí tuệ đi đôi với lòng dũng cảm

– Trí tuệ đi đôi với lòng dũng cảm:

Trong Phật giáo, đức Phật đã ví người tu như một chiến sĩ trên chiến trường: “Người tu hành theo Ðạo như một người chiến đấu với vạn người. Mặc áo giáp ra cửa, tâm ý hoặc khiếp nhược, hoặc đi nửa đường thối lui, hoặc chiến đấu đến chết, hoặc đắc thắng mà về. Người Sa môn học Ðạo (cũng vậy) phải có ý chí kiên cường, dũng mãnh tiến lên, không sợ cảnh tượng trước mắt (làm chướng ngại) phá tan các loài ma để đắc Ðạo thành đạo quả.” (kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Các loại ma ở đâu gồm có bốn loại: ngũ ấm ma, ma phiền não, thiên ma và tử ma. Hành giả cần điều phục nội ma từ bản tâm của mình để diệt trừ ma phiền não, sau đó kiên dũng chiến đấu với ngoại ma như thiên ma và tử ma. Khi được thực hành Yoga Tây Tạng, học trò sẽ thực hành trong môi trường động và tĩnh dựa trên ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và trí huệ tánh không, giúp hành giả điều phục nội ma cũng như ngoại ma. Khi hành giả đạt được một trình độ nhất định, được khai mở trí huệ bát nhã thì tử ma không còn là trở ngại. Như vậy, người chiến sĩ trên mặt trận tâm linh ấy, luôn kiên cường chiến đấu vì mục đích lợi mình lợi người, mang ánh sáng trí tuệ phật đà giúp mình và tha nhân vượt luân hồi vào tịnh độ.

06sNghiên cứu khoa học cũng đòi hỏi lòng dũng cảm của người chiến sỹ trên mặt trận. Chiến đấu chống điều ác và sự bất công, chiến đấu chống điều ác và sự bất công, chiến đấu chống lại các thế lực đen tối của thiên nhiên để đem lại sự sáng sủa cho đời sống con người đều cần tới tinh thần dũng cảm.

– Tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật, không để cho thiên kiến chi phối.

Đức Phật là một lương y kiệt xuất, giúp chúng sanh đoạn trừ phiền não, chữa mọi căn bệnh về thân và tâm bằng cách dạy cho con người có cái nhìn khách quan, trung thực và luôn tôn trọng sự thật khách quan, không để tâm phàm chi phối. Trong kinh Bahiya, đức Phật đã dạy: “Trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri. Như vậy này Bahiya, ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bahiya, nếu với ông, trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri. Do vậy, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bahiya, ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau…..” Đồng thời đức Thế Tôn đã khuyến cáo đệ tử của ngài: “đừng tin vào tâm ý mình khi chưa đắc thánh quả” (kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Chân lý là sự thật khách quan, nhà khoa học là người bằng mọi cách, khám phá ra sự thật khách quan trong tự nhiên. “Tìm hiểu chân lý phải là mục đích chính của hoạt động khoa học” nhà khoa học Henri Poanhcarê đã từng khẳng định.

– Tư duy không vụ lợi

Phat

Bồ tát vì điều phục giáo hóa tất cả chúng sanh nên mới phát Bồ đề tâm

Trong đạo Phật, đặc biệt là đại thừa hay khi thực hành Yoga Tây Tạng, bồ đề tâm là yếu tố quan trọng trong hành trình giác ngộ, hiểu đúng bản chất của sự vật hiện tượng và tìm về với chân tâm. Bồ đề tâm theo đúng quỹ đạo chánh pháp được nhắc nhiều trong các kinh Phật, cụ thể trong kinh Hoa Nghiêm, Ngài Phổ Hiền Bồ tát bảo: “Thiện nam tử! Bồ tát vì điều phục giáo hóa tất cả chúng sanh nên mới phát Bồ đề tâm. Vì trừ diệt khổ cho tất cả chúng sanh nên mới phát Bồ đề tâm. Vì đem cho tất cả chúng sanh sự an vui đầy đủ nên mới phát Bồ đề tâm. Vì trừ diệt sự ngu tối cho tất cả chúng sanh nên mới phát Bồ đề tâm. Vì đem Phật trí cho tất cả chúng sanh nên mới phát Bồ đề tâm. Vì cung kính cúng dường chư Phật nên phát Bồ đề tâm. Vì tùy thuận lời dạy Như Lai khiến chư Phật hoan hỷ nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn thấy sắc thân tướng hảo của chư Phật nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn vào trí huệ rộng lớn của tất cả chư Phật nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn biểu hiện tất cả các đức lụy vô úy của chư Phật nên mới phát Bồ đề tâm”.

Bồ đề tâm gồm hai loại: bồ đề tâm nguyện và bồ đề tâm dụng. Khi thực hành Yoga Tây Tạng, học trò thực hiện bắt đầu bằng bồ đề tâm nguyện trong 16 động tác bồ đề tâm, sau đó khi đã đủ trình độ, học trò sẽ hướng dẫn và giới thiệu người khác cùng được tu học Yoga Tây Tạng như mình, giúp bản thân và tha nhân thấu hiểu quy luật của tự nhiên để có được cuộc sống khỏe mạnh, an lạc.

TƯ DUY BIỆN CHỨNG VÀ TÍNH THỰC TIỄN CỦA KHOA HỌC TÂM LINH

Còn mục đích chính của khoa học là giúp con người ngày càng đi sâu vào bí ẩn của tự nhiên. Khoa học chỉ phát triển mạnh mẽ nếu quy luật phát triển nội tại của nó được bảo đảm. Nếu lồng mục đích danh lợi vào nghiên cứu khoa học thì quy luật phát triển của khoa học bị thương tổn và đường hướng phát triển tự nhiên của khoa học bị lệch lạc hoặc ngừng trệ. Điều này ảnh hưởng ngay tới việc đi tìm chân lý.

Khoa học và danh lợi dường như là hai phạm trù mâu thuẫn. Yêu cầu của khoa học là khách quan, còn yêu cầu của danh lợi là chủ quan. Chân lý là sự thật khách quan. Danh lợi không thể nào dẫn dắt con người tới chân lý. Không vụ lợi trong khoa học mới giữ vững được tính không thiên tư trong nghiên cứu, không thiên tư với mình và với các đồng nghiệp. Người khoa học không thiên tư với mình dễ thấy sai lầm trong giả thuyết của mình, và dễ xác định hướng triển khai thí nghiệm một cách đúng đắn. Không thiên tư với các đồng nghiệp mới đánh giá chính xác sự đóng góp của từng người cho khoa học, và nếu là người quản lý, sẽ giữ vững được tình tập thể chặt chẽ của đội ngũ nghiên cứu.

Cũng vì lẽ đó mà ngài Edwin Arnol nói: “Tôi đã thường nói, và tôi sẽ nói mãi nói mãi rằng giữa Phật-giáo và khoa học hiện đại có quan hệ tinh thần khắn khít” (Sir Edwin Arnol said: I often said, and I shall say again and again, that between Buddhism and modern science there exists a close intellectual bond).

phat-giao-va-khoa-hoc

Edwin Arnol nói: “Tôi đã thường nói, và tôi sẽ nói mãi nói mãi rằng giữa Phật-giáo và khoa học hiện đại có quan hệ tinh thần khắn khít”

Hơn thế nữa, đạo Phật còn là một môn khoa học tâm linh mang tính biện chứng. Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”. Theo Ph.Ăngghen : “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.20).

Tư duy biện chứng của Yoga Tây Tạng là tư duy về sự vận động, biến đổi của vạn vật trong thế giới và ngay chính trong bản thân con người, trong đó luận giải về vấn đề sinh ra, lớn lên và biến mất. Con người nằm trong vòng sinh lão bệnh tử, nằm trong vòng luân hồi. Thế giới vô thường, sự vật ở hiện tại là nguyên nhân dẫn đến cái khác.

Ngoài ra, tư duy biện chứng thể hiện rõ nhất ở luật nhân quả, thuyết vô thường và vô ngã. Trong luật nhân quả, triết học Phật giáo đề cao tính tự thân sinh thành, biến đổi của vạn vật kể các chúng sanh ở các cõi, không có sự chi phối của bất kỳ một thế giới thần thánh hay thần linh nào. Ngược lại, tất cả đều bị chi phối rất công bằng theo luật tắc nhân quả, gieo nhân nào thì gặt quả đó, luật tắc nhân quả theo sát chúng sanh như bóng với hình. Điều này được quán triệt trong việc lý giải những vấn đề của cuộc sống nhân sinh như: hạnh phúc, khổ đau, giàu nghèo…như lời đức Phật dạy: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.” (Tăng Chi II)

Thuyết vô thường – vô ngã trong giáo lý Phật giáo hay Yoga Tây Tạng thể hiện tính biện chứng sâu sắc. Phạm trù vô ngã chỉ rõ mọi sự vật hiện tượng đều không có tính thường hằng, nó chỉ là sự giả hợp khi hội đủ nhân duyên tạo thành ra “có”. Ngay bản thân sự tồn tại thực tế của con người cũng do ngũ uẩn hội hợp thành bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhìn một cách tổng quát thì vạn vật hình thành do sự hội hợp của các yếu tố khách quan, không có “tôi” hay “của tôi” trong đó, do vậy nó là vô ngã. Bên cạnh đó, phạm trù vô thường gắn liền với vô ngã. Vô thường là vạn vật biến đổi theo chu trình bất tận: sinh, trụ, hoại, không, tạo nên luân hồi bất tận.

Tác phẩm C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “trong triết học Ấn Độ biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học Phật giáo với các phạm trù như: “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.494. ). Với các phạm trù vô ngã, vô thường, nhân duyên, Yoga Tây Tạng được truyền ban đến học trò những hiểu biết trên nền tảng mọi sự vật hiện tượng đều không có tự tánh, chúng đều có sự ràng buộc lẫn nhau, hình thành và mất đi theo duyên khởi. Đức Phật đã dạy trong kinh Đại Bát-niết-bàn: “Các ông nên biết! bất cứ cái gì tồn tại đều phát xuất từ nguyên nhân và điều kiện trong mọi phương diện vô thường”. Không có sự tồn tại mà chỉ có sự xứng hợp duy nhất, mỗi trạng thái riêng biệt của chúng sanh không xảy ra cùng một lúc mà sanh diệt tương tục. Tất cả các pháp bao gồm con người, sự vật, hiện tượng… có hình thái và đặc tính riêng biệt cấu thành một vật thể, các yếu tố hợp thành nó là sự thay đổi thường hằng và không bao giờ giống nhau, vì hai sự vật sanh diệt tiếp liền nhau.

 Vậy sử dụng “nguyên tố” nào để tạo ra “năng lượng tâm linh” tích cực?

Egerton C. Baptist khẳng định: “Khoa học không thể đưa ra một sự đoan chắc. Nhưng Phật-giáo có thể đáp ứng sự thách đố của Nguyên tử, nên kiến thức siêu phàm của Phật-giáo bắt đầu ở chỗ kết thúc của khoa học”

Như vậy, phật giáo nói chung và Yoga Tây Tạng hay còn gọi là Mật tông Tây Tạng nói riêng là khoa học biện chứng tâm linh trên hành trình giác ngộ. Hệ thống giáo lý cũng như thực hành của Yoga Tây Tạng theo quy trình khoa học. Nhưng khoa học biện chứng tâm linh này vượt xa khoa học thế gian bình thường như Egerton C. Baptist khẳng định: “Khoa học không thể đưa ra một sự đoan chắc. Nhưng Phật-giáo có thể đáp ứng sự thách đố của Nguyên tử, nên kiến thức siêu phàm của Phật-giáo bắt đầu ở chỗ kết thúc của khoa học”

Dựa trên nền tảng “lấy tâm làm chủ, lấy trí làm đầu và duy tuệ thị nghiệp” cùng với việc thấu triệt sự vô ngã, vô thường, luật nhân quả, lý nhân duyên, vị Thầy đã trải qua thực nghiệm các pháp thực hành Yoga Tây Tạng dựa trên 3 tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và tánh không. Cuối cùng Thầy đã tổng hợp, đúc kết lại các bài thực hành Yoga Tây Tạng cho học trò, nhằm mang lại sức khỏe cộng đồng về thể chất, tinh thần cũng như tâm linh, giúp học trò có được cuộc sống lành mạnh với thể trạng tốt và tự bản thân khám phá, khai thác nguồn tài nguyên trí tuệ để được “an lạc đời này, cực lạc đời sau”.

Khi thực hành 16 động tác bồ đề tâm trong đời sống hàng ngày, sử dụng những động thái sinh hoạt hàng ngày để tiếp cận giác ngộ đã được Thầy luận giải như sau:

“Con người khi sinh hoạt trong đời sống hiện hữu, không thể tách rời những động tác trên, hoặc ít hoặc nhiều trong tùy tình huống, nhưng luôn luôn phải thực hiện. Đây là nhân duyên để người tu lấy làm nguyên cớ để cầu mong cho tất cả chúng sanh, phản ánh sự tinh tấn hành trì mà Đức Maitreya khẳng định “Trong các đức hạnh thì tinh tấn là tối thượng” (Đại thừa trang nghiêm luận).  Bởi lẽ, một khi “nhân” là cầu nguyện cho tất cả chúng sanh, thì “quả” là sự hồi phước từ tất cả chúng sanh. Chúng sanh thì vô lượng vô biên trong 6 nẻo luân hồi (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, thần, trời), nên phước quả chúng ta là vô lượng vô biên, tương ưng theo lý NHÂN-QUẢ.

Một khi người thực hành quán niệm này đều đặn, liên tục, với thái độ tỉnh thức trong từng động tác của mình mà nhớ nghĩ đến cầu nguyện cho tất cả chúng sanh; bấy giờ vô tình chúng ta đã đào luyện được phép thiền chánh niệm (minh sát tuệ).”( http://chanhtuduy.com/tthe-nao-goi-la-yoga-tay-tang/)

Om Mani Padme Hum

Om Mani Padme Hum

Cùng với việc thực hành thiền động theo bước chân tụng câu thần chú Om Mani Padme Hum mang lại lợi lạc cho muôn loài vì “Kinh điển Mật giáo xác quyết rằng thần chú lục tự đại minh (OM MA NI PAD ME HUM) mỗi lần được niệm thầm (học thành tiếng vừa đủ cho cổ áo nghe) là thực hiện cùng một lúc được lục độ Ba la mật. Mặt khác, Mật giáo cũng khẳng định rằng mỗi lần niệm lục tự đại minh là một cách đem lại an vui cho cùng một lúc tất cả chúng sanh trong lục đạo luân hồi. Hơn nữa, Mật giáo cũng xác quyết rằng lục tự đại minh là tiêu biểu cho toàn bộ áo nghĩa diệu thâm của 12 tạng kinh điển. Cho cho nên mỗi khi niệm lục tự đại minh là cùng một lúc đọc tụng 12 tạng kinh điển Phật môn.” (http://chanhtuduy.com/tthe-nao-goi-la-yoga-tay-tang/)

Khi hành giả hành thiền trong không gian linh thánh, niệm thần chú theo hơi thở hay quán tưởng thánh tướng Bổn tôn, giúp hành giả nhanh chóng đến gần với cánh cửa giải thoát vì cùng một lúc tiếp cận ba tinh yếu giác ngộ. Ngoài ra, khi cầu nguyện cho tất cả chúng sanh theo 16 động tác đời thường và niệm thần chú theo bước chân, hành thiền trong không gian linh thánh thì chúng ta thực hành Yoga một cách hoàn chỉnh vì đã hợp nhất được thân, ngữ, tâm. Có nghĩa là thân thì bước đi, ngồi, nằm, ăn, uống…ngữ thì niệm thần chú….; tâm thì nghĩ đến chúng sanh muôn loài sáu cõi. Khi đã đạt được sự hợp nhất thân ngữ tâm thì hành giả sẽ đoạn trừ được phiền não do thân bệnh và tâm bệnh gây ra, từ đó hành giả sẽ dễ dàng nhận biết được chân lý tối thượng và sống an lạc với chân lý đó cùng trí huệ tánh không được khai mở.

tri tue con nguoi

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng mở ra một chân trời mới về khoa học biện chứng tâm linh nhằm khai thác và phát huy nguồn tài nguyên trí tuệ của con người

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng mở ra một chân trời mới về khoa học biện chứng tâm linh nhằm khai thác và phát huy nguồn tài nguyên trí tuệ của con người bằng các phương pháp thực hành lớp lang trình tự, phù hợp với tính dân tộc, tính thời đại, tính quốc độ và đặc biệt phù hợp với từng hoàn cảnh của học trò. Yoga Tây Tạng trở thành chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cổng bước vào đời sống khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và tâm linh, giúp con người đoạn trừ phiền não, thấu triệt chân lý tối thượng và đạt được niềm hạnh phúc miên viễn với mùa xuân chánh pháp:

“Xuân về hoa đạo tỏa ngát hương

Bồ đề tâm dụng trải muôn phương

Mật gia Song Nguyễn giong buồm lớn

Tiến vào biển đạo đến chân thường”

Con cầu nguyện Thầy Cô trụ thế lâu dài để ánh sáng trí tuệ được lan tỏa khắp muôn nơi, giúp chúng sanh hữu duyên “đời này an lạc, đời sau cực lạc”

Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

Om Mani Padme Hum.

Hà Nội ngày 16/02/2015

Mật Diệu Hằng

Bài liên quan: 

Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng và thực hành Yoga Tây Tạng: một bước ngoặt của khoa học biện chứng tâm linh – Mật Từ

TRỰC TÂM VÀ CÔNG TÂM – Mật Huệ Pháp

  1. Mật Hạnh Giác says:
    Mô Phật!
    Kính Bạch Thầy, con đã đọc bài viết này ạ. Con xin tán thán những luận giải sâu sắc giữa Phật Giáo và khoa học của huynh Mật Diệu Hằng. Con xin cảm tạ vị Thầy đã truyền trao cho chúng con pháp tu đầy đủ biện chứng tâm linh như vậy.
    Cầu nguyện cho huynh Mật Diệu Hằng và gia đình gặt hái được hanh thông trên cả đường Đời lẫn đường Đạo.
    Cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc và hạnh phúc chúng sanh.
    Nguyện cho chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật Tánh.
    Om Ah Hum.
    • Mạc Thị Duyên says:
      kính bạch Thầy!

      con đã đọc bài giảng,trong bải này giúp con nhận ra được giá trị cuộc sống và cách rũ bỏ mọi phiền não mà sống

      con nguyện cầu cho muôn vãn chúng sanh được giác ngộ.

      con tạ ơn Thầy cô đã ban phát cho con những điều tốt đẹp.

      om mani padme hum!

       

  2. Mật Tuệ Thanh says:
    Mô Phật,

    Kính bạch Thầy,

    Con đã đọc bài này rồi ạ. Con hoan hỷ và tán thán đạo huynh Mật Diệu Hằng đã tuệ tri qua lăng kính chánh tư duy mà phân tích tính khoa học biện chứng tâm linh của Yoga Tây tạng.

    Om Mani Padme Hum!

  3. Mật Huệ Pháp says:
    Mô Phật,

    Mật Huệ Pháp hoan hỷ tán thán thiện hạnh của Đạo huynh Mật Diệu Hằng về bài viết mới với những trích dẫn hết sức đắt giá nhằm luận giải tính chất biện chứng tâm linh của Đạo Phật. Một điểm độc đáo trong bài viết của Đạo huynh chính là sự ứng dụng khéo léo 5 định nghĩa về khoa học được nêu ra trong cuốn từ điển Merriam Webster với tinh thần khoa học trong đạo Phật nói chung và Yoga Tây Tạng nói riêng. Phần lớn những kết quả nghiên cứu của khoa học cho tới nay đều đã được mô tả trong các kinh điển từ hàng ngàn năm trước, ví như các nhà khoa học đã chế được máy ngửi mười nghìn thứ mùi khác nhau (Đạo Phật và Khoa học) thì trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng: “Người thụ trì Kinh này trọn được tám trăm công đức sẽ ngửi được trăm nghìn thứ mùi trong Tam Thiên Đại Thiện thế giới”; hay Phật cũng thường dạy: “Thế giới nhiều như bụi, đều nương sinh trong hư không, những phong luân khi xoay tròn tạo nên sơn hà đại địa” (Kinh Lăng Nghiêm) thì Thiên văn gia Edwin Huble, nổi tiếng thế giới với phát minh kính viễn vọng Huble đã khẳng định rằng: “Có hàng tỉ giải ngân hà và hàng tỉ tỉ tinh tú ngoài giải ngân hà của chúng ta”.

    Qua đây, cho thấy rằng những kết quả nghiên cứu khoa học chỉ thể hiện một phần rất rất nhỏ bé của trí huệ Phật đà vốn được coi là trí huệ xuất thế gian, vượt xa cả sự hiểu biết của khoa học thế gian. Albert Einstein đã từng khẳng định rằng: “Nếu có một tôn-giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn-giáo đó phải là Phật-giáo” Tuy nhiên, vì sự vô minh dẫn đến cố chấp mà con người không nhận chân được chân lý tối thượng mà đức Phật đã chỉ ra.

    Có thể nói rằng pháp tu Phát Bồ đề tâm thông qua 16 động tác hàng ngày và phương pháp niệm thần chú lục tự đại minh theo bước chân mà Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và thực hành Yoga Tây Tạng đang phổ biến dưới sự hướng dẫn của Thầy Thinley Nguyên Thành là một minh chứng về tính khoa học, phù hợp với tính dân tộc, tính thời đại và tính quốc độ. Sau một thời gian thực hành pháp tu này, chắc chắn không chỉ mình đệ mà còn rất nhiều các học trò khác cảm nhận được sự vi diệu, lợi lạc vô biên đối với cuộc sống thế sự cũng như đời sống tâm linh của chính bản thân.

    Cám ơn bài viết vô cùng độc đáo và mang nhiều ý nghĩa của Đạo huynh.
    Con cầu nguyện vị Thầy tâm linh tôn quý cùng người phối ngẫu của Ngài thân tâm an tịnh, vì lợi lạc của chúng sanh và vì sự phát triển của Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng và thực hành Yoga Tây Tạng, giúp mang ánh sáng Phật Đà soi rọi khắp muôn phương
    Chúc Đạo huynh và gia đình sức khỏe, hanh thông Đạo-Đời
    Cầu nguyện chúng sanh đạt thành tựu hạnh phúc của Phật tánh
    Om Ah Hum

  4. Mật Từ says:
    Mô Phật,
    Mật Từ hoan hỷ tán thán và ngưỡng mộ bút lực của huynh Mật Diệu Hằng qua bài viết “Thực nghĩa về biện chứng tâm linh”. Đọc xong bài viết, Mật Từ càng cảm thấy rõ tư duy của một “nhà khoa học” với sự phân tích logic, chặt chẽ với đầy đủ luận chứng, luận cứ rõ ràng. Bài viết là minh chứng rõ ràng cho những lý luận mà huynh đưa ra để chứng minh rằng hành giả Phật giáo thực hiện tinh thần tu tập trên nền tảng khoa học:
    – Dùng đầu óc, luận lý và thực nghiệm để ra khỏi sự ngu tối.
    – Trí tuệ đi đôi với lòng dũng cảm
    – Tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật, không để cho thiên kiến chi phối.
    – Tư duy không vụ lợi

    Nhờ sự phân tích và nêu rõ các định nghĩa về “tôn giáo” và phân định các mục đích nghiên cứu của khoa học, Mật Từ càng hiểu rõ hơn vì sao nói :”Phật giáo không phải là một tôn giáo”.Ngược lại, Phật giáo đi theo tiến trình khoa học và xa hơn so với khoa học rất nhiều lần. Có những bài cầu nguyện kinh điển của đạo Phật, được lưu truyền từ nhiều đời cho đến tận ngày nay. Ví dụ quen thuộc như bài nguyện “Bảy nhánh chi tiết” có đoạn như sau:” Nhờ nguyện lực của đức Phổ Hiền, tất cả các đấng Chiến thắng xuất hiện trong phạm vi tri giác của con. Con đảnh lễ các Ngài bằng thân thể con nhiều như vô số vi trần trong các cõi Phật. Trên mỗi vi trần này lại có chư Phật nhiều như vô số vi trần trong vũ trụ..”. Chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của những hạt “vi trần trong vũ trụ” được nhắc đến như một lời khẳng định từ thời Đức Phật mà khoa học phải mất rất nhiều thời gian để tìm kiếm. Trong thực tế phát triển của các ngành khoa học, đến năm 1811 khái niệm mơ hồ về phân tử mới lần đầu được giới thiệu bởi nhà bác học Amedeo Avogadro (sinh ngày 09-8-1776 tại Turin, Ý). Sự tồn tại của các phân tử vẫn là một đề tài tranh luận sôi nổi trong cộng đồng hoá học, cho tới năm 1911, khi Perrin công bố các kết quả nghiên cứu của mình. Ngoài ra, khái niệm nguyên tử là thành phần vô hình của vật chất được các nhà triết học Ấn Độ và Hy Lạp đề xuất ra đầu tiên. Cho đến khoảng thế kỷ thứ 18-19, các nhà khoa học mới nêu ra khái niệm về nguyên tử. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các nhà vật lý mới chính thức khẳng định những thành phần hạ nguyên tử và cấu trúc bên trong nguyên tử, và do vậy chứng minh “nguyên tử” hóa học có thể phân chia được. Sự tìm kiếm của các nhà khoa học đối với bí ẩn của vũ trụ dường như không bao giờ có thể chấm dứt trong sự lý luận và thực nghiệm ở trình độ “phàm phu” của cõi Ta Bà và không biết bao giờ mới đến được giai đoạn tận cùng của các tổ chức vật chất.

    Trong Đạo Phật, có thể hiểu luật tắc nhân quả vận hành không sai chạy bởi các nguyên tố thô và nguyên tố vi tế có tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên những kết quả tương ứng với “lực tác động” đó (xem loạt bài về Nguyên tố sự: http://chanhtuduy.com/bai-1-nguyen-to-va-nang-luong-tam-linh/). Bản thân sự tồn tại thực tế của con người do ngũ uẩn hội hợp thành bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, trong đó bao gồm các nguyên tố thô là tấm thân tứ đại (gồm 4 yếu tố đất, nước, gió, lửa) và các nguyên tố vi tế là tính cách, hành vi, quan điểm và xu hướng sống,.. Bởi các nguyên tố vi tế thúc đẩy sự vận hành của nguyên tố thô và các nguyên tố thô góp phần đảm bảo cho sự hài hòa của các nguyên tố vi tế, mỗi người đều chủ động với những gì là biểu hiện trong đời sống của mình tùy thuộc vào “nhân” – chính là lực tác động và cách tác động lực vào các nguyên tố thô và nguyên tố vi tế (tương tự như 4 cách tác động lực của Định luật Newton: tương tác mạnh, tương tác điện từ, tương tác yếu, và tương tác hấp dẫn). Đạo Phật chứng tỏ sự vận hành không sai chạy của nhân quả một cách logic và không thể chối cãi với những lời dạy của Đức Phật từ thuở con người còn chưa biết đến khoa học. Mãi về sau này, các định luật Newton được công bố lần đầu tiên năm 1687 trong cuốn Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các nguyên lý toán học trong triết học tự nhiên, vật lý từng được xem là môn triết học về tự nhiên) với định nghĩa như sau:” Lực là đại lượng đặc trưng cho sự truyền tương tác của vật này lên vật khác. Khi vật A tác dụng lên vật B thì đặc trưng cho tác dụng đó được gọi là lực. Tức là tác dụng của vật A lên vật B càng lớn thì ta nói rằng lực tác dụng của vật A lên vật B càng lớn và ngược lại. Ở đây ta nói đến sự truyền tương tác là vì trong tự nhiên mọi sự tác dụng đều mang tính hai chiều (tác dụng qua lại) . Tức là lực luôn xuất hiện từng cặp. Một lực theo một chiều nào đó gọi là lực tác dụng và lực theo chiều ngược lại gọi là lực phản tác dụng hay phản lực”.

    Thêm nữa, là một Phật tử chân chính được truyền dạy những nguyên lý cơ bản trong đạo Phật từ vị Thầy của mình, ai cũng có thể hiểu được sự vận hành của bánh xe luân hồi là kết thúc một kiếp sống này là sự bắt đầu của một kiếp tái sinh khác tùy theo nhân quả và nghiệp duyên từ kiếp này và vô lượng kiếp trước của mình. Điều này lại được chứng minh một lần nữa, tuy ở mức độ vật chất thể (hạn cuộc) của khoa học trong định luật bảo toàn năng lượng rằng: “Năng lượng không tự sinh ra cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác hay chuyền từ vật này sang vật khác”. Vậy nên, những ai cho rằng mình là Phật tử nhưng vẫn mang tâm lý chấp thủ, dẫn đến việc bắt bẻ từng lời dạy của các vị Thầy chân chính – là những người truyền dạy những lời dạy của Đức Phật chẳng khác nào những kẻ cho rằng mình tin vào khoa học, vào những điều mắt thấy tai nghe nhưng thực sự lại chẳng hiểu gì về khoa học bởi họ chỉ tư duy theo lối mòn, trong khi khoa học là một tiến trình và không có một kết quả nào là cố định mãi mãi. Đức Phật là bậc toàn giác, có lợi ích gì khi chúng ta mất thời gian nghi ngờ và kiểm chứng lại những lời Ngài nói và chờ đợi thời gian trôi qua, rồi lặn ngụp trong đại dương luân hồi?!

    Một lần nữa, Mật Từ vô cùng hoan hỷ và cám ơn bài viết của huynh Mật Diệu Hằng. Bằng những lý luận sắc bén, rõ ràng, huynh đã giúp Mật Từ cảm thấy niềm kiêu hãnh thiêng liêng và vô cùng tự hào là một Phật tử, càng vững tin vào vị Thầy và giáo pháp trong khi đang “học hỏi, tư duy và tu tập”.
    Cầu chúc huynh Mật Diệu Hằng và gia đình luôn tinh tấn và đạt được nhiều thành tựu cả đời lẫn đạo.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum.

  5. Mật Nhị Khang says:
    Mô phật!
    Pháp đệ Mật Nhị Khang hoan hỷ với bài viết của Đạo huynh Mật Diệu Hằng. Bằng những minh chứng khoa học của các nhà khoa học cũng như những luận điểm, luận chứng, luận cứ từ những lời kim khẩu của Đức Thế Tôn, các chư vị thánh chúng đã minh chứng , luận giải về biện chứng tâm linh của Đạo Phật nói chung và Yoga Tây tạng nói riêng. Thông qua việc thực hành 16 động tác bồ đề tâm trong đời sống hàng ngày quá trình nghe, đọc giáo lý về Yoga Tây Tạng là sự hợp nhất thân ngữ tâm, về ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và tánh không là cơ hội để tích tập nguồn công đức, trí tuệ nhà phật. Bằng những phương pháp linh hoạt, đơn giản và tận dụng được mọi khung thời gian trong đời sống thế sự. Là một bộ môn khoa học biện chứng tâm linh, được luận giải chi tiết và sâu sắc qua các dẫn chứng xác đáng, chứng minh cho những những thành công mang cả tính khoa học hiện đại. Thực sự pháp đệ rất ấn tượng với bài viết của Đạo huynh.
    Cầu chúc Đạo huynh hanh thông thế sự, tinh tấn tu tập.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum.
  6. Mật Ngã says:
    Qua bài viết của Đạo huynh Mật Diệu Hằng, Mật Ngã nghĩ rằng khoa học là những gì có thật, là sự thật, tồn tại thật với sự tìm hiểu, trải nghiệm để có kết luận một cách rõ ràng chứ không phải chỉ nghe mà tin hay tự nghĩ ra, mơ hồ, huyền hoặc… Nhưng tuy nhiên, những gì đỉnh cao của khoa học qua thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, phát hiện ra thì chỉ là khởi đầu của đạo Phật như trong bài viết Đạo huynh có đề cập cùng các comment.
    Những gì khoa học thế gian phát hiện ra còn quá ít, quá ít so với những gì Đức Phật “phát hiện” ra. Khoa học tâm linh của đạo Phật bao hàm khoa học thế gian, nhưng khoa học thế gian không thể đi vào khoa học tâm linh huống chi là bao hàm. Cho nên nếu dùng khoa học thế gian để tìm hiểu, chứng minh những gì Đức Phật đã tìm ra thì không thể được, sẽ không có kết quả ví như khoa học thể gian không thể tìm ra được hay chứng minh được có cảnh giới địa ngục, trời hay đặc biệt là Tây phương cực lạc. Điều đó không phải những gì Đức Phật tìm ra là không có thật mà do trình độ, khả năng của khoa học thế gian còn quá hạn chế, chứ không thể chấp nhận rằng họ không tìm thấy tức là không có thật
    Nếu những khoa học nào muốn tìm hiểu, chứng minh… những điều Đức Phật nói thì họ phải bước vào cánh cửa khoa học tâm linh đó là Quy y và thực hành những gì Phật đã làm, đã nói thì mới có thể tiếp cận với sự thật ( chân lý) và cũng trở thành một khoa học gia vĩ đại như Đức Phật ( Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành).
    Mật Ngã nghĩ rằng người muốn bước vào cánh cửa khoa học thế gian thì đòi hỏi người đó phải có sự đam mê, thông minh nhưng cánh cửa khoa học tâm linh thì lại khác hoàn toàn, cánh cửa ấy đòi hỏi con người cơ bản là duyên lành quá khứ đã gieo, nhưng những khoa học thế gian chưa thể khám khá được duyên lành đã gieo trong quá khứ những kiếp trước, những cõi giới của luân hồi… nên phần lớn những khoa học thế gian không phải là hành giả Phật giáo ( người thực hành, nghiên cứu khoa học tâm linh) dù họ cũng đề cao đạo Phật, và đôi khi “khoa học phản khoa học”.
    Mật Ngã hoan hỷ với những chia sẻ của Đạo huynh Mật Diệu Hằng!
    Cầu nguyện cho chúng sanh có duyên lành bước vào cánh cửa khoa học tâm linh. Om Ah Hum!
  7. Mật Thiệu says:
    Kính Bạch Thầy!
    Con đã đọc xong bài này rồi thưa Thầy!
    Pháp đệ thật hoan hỷ và tán thán công đức của Đạo huynh Mật Diệu Hằng qua bài”Thực nghĩa về biện chứng tâm linh”.Thật ngưỡng mộ Đạo huynh đã luận giải một cách sâu sắc về sự tương quan giữa Đạo Phật và khoa học.Qua đây,pháp đệ còn biết được Đạo Phật không phải là một tôn giáo mà đó là hành trình giác ngộ.
    Cầu chúc Đạo huynh và gia đình được nhiều sức khỏe,hanh thông trên đường đạo lẫn đường đời.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om mani padme hum.
  8. Mật Tất Kiểm says:
    Mô Phật !
    Pháp đệ hoan hỉ với thiện hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng . Qua bài viết mà huynh chia sẻ đệ thấy rằng khoa học là một hình thức tìm hiểu sự thật thông qua nhiều trải nghiệm cũng như hình thức thực nghiệm với tất cả mọi sự vật hiện tượng có bên ngoài và luôn luôn có luận chứng và luận cứ để minh chứng cho luận điểm khoa học đưa ra là đúng đắn . Khoa học cũng là hành trình của nhân quả và trong quá trình ấy những nhà khoa học là những người đi tìm chân lý tối thượng của họ để đúc rút được những kết quả nhằm có lợi cho nhân loại .
    “Đạo Phật nói chung và Yoga Tây Tạng nói riêng đi theo hành trình khoa học” . Thật vậy trong quá trình tu tập và thực hiện mọi nghi thức tâm linh người tu , người thực hành luôn nhận được những kết quả mới bất ngờ mà trước giờ chưa bao giờ thấy được , cũng là hành trình kết nối bản thân với sự vật hiện tượng bên ngoài từ đó chuyển mình từ bên trong để đạt được kết quả tốt nhất .
    Một lần nữa đệ tán thán thiện hạnh của huynh Mật Diệu Hằng .
    Cầu nguyện cho chúng sanh hạnh phúc với thành tựu Phật tánh !
    OM AH HUM !
  9. Mật Hoàng Hạ says:
    Mô Phật!
    Pháp đệ thật sự hoan hỷ và thán phục Đạo huynh Mật Diệu Hằng trước sự luận giải sắc bén, đầy tính logic qua các dẫn chứng rất cụ thể cho đệ hiểu thêm sự nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng mang “thực nghĩa khoa học tâm linh của Đạo Phật” kết hợp với “Tư duy biện chứng & tính thực tiễn của khoa học tâm linh” Cụ thể là thực hành Yoga Tây Tạng khẳng định sự giác ngộ của mỗi con người trên nền tảng khoa học bằng phương pháp hợp nhất thân ngữ tâm, về ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và tánh không, mang lại cho mỗi hành giả niềm vui, thân tâm an lạc, giải trừ mọi phiền não ,đem đến hiệu quả tâm linh qua 16 động tác bồ đề tâm, niệm Thần chú Lục Tự Đại Minh theo bước chân, thiền theo trạng trái động hoặc tĩnh…Đó theo như lý thuyết của nhà Phật như Đạo huynh đã chỉ ra “hành trình giác ngộ của mỗi con người, đức Phật nhấn mạnh niềm tin tự giác ngộ của Phật tử chứ không phải là dựa vào ai đó để đạt giác ngộ, đạo Phật trở thành một môn khoa học biện chứng tâm linh mang tính chất thực nghiệm, chứ không phải là một tôn giáo mê tín dị đoan, tin mù quáng vào thần thánh”. Thêm vào đó, từ những luận giải của bài viết cho đệ có cái nhìn khách quan về Tư duy biện chứng của Yoga Tây Tạng, giải đáp theo khoa học các hiện tượng về quy luật của sự vận động, biến đổi của vạn vật trong thế giới và ngay chính trong bản thân con người như sinh lão bệnh tử, giải thích vấn đề tâm linh như luật nhân quả, thuyết vô thường và vô ngã.
    Pháp đệ tán thán sự luận giải đầy thuyết phục của Đạo huynh, cầu chúc cho Huynh và gia đình sức khỏe, hanh thông đường Đạo lẫn đường Đời.
    Con cầu nguyện cho sự trường thọ của Thầy Cô nhằm lợi lạc cho chúng sanh .
    Cầu nguyện cho sự nghiệp hoằng dương chánh pháp của Thầy Cô sớm được viên thành .
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum!
  10. thu trang says:
    Thưa Thầy
    Con hoan hỷ đọc bài viết này
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc phật tánh
    Om mani padme hum
  11. Mật Kính says:
    Mô Phật !
    Mật Kính hoan hỉ và tán thán thiện hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng qua bài viết thực nghĩa về biện chứng tâm linh, qua cách phân tích sâu sắc của huynh đã chứng minh một cách thuyết phục rằng hành giả Phật giáo thực hiện tinh thần tu tập trên nền tảng khoa học: Dùng đầu óc, luận lý và thực nghiệm để ra khỏi sự ngu tối, trí tuệ đi đôi với lòng dũng cảm; tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật, không để cho thiên kiến chi phối.và tư duy không vụ lợi và tổng quát thì Phật giáo nói chung và Mật tông Tây Tạng nói riêng là khoa học biện chứng tâm linh trên hành trình giác ngộ. Và hành trình giác ngộ ấy được thực hiện bằng 3 yếu tính giác ngộ : xả ly, tính không và bồ đề tâm cũng như sự lợi lạc vô song khi thực hiện 16 động tác bồ đề tâm trong cuộc sống hàng ngày, và phương pháp niệm thần chú lục tự đại minh theo bước chân … theo sự hướng dẫn của vị Thầy theo đúng quốc độ, và thời đại.
    Một lần nữa đệ tán thán thiện hạnh của huynh Mật Diệu Hằng và
    Cầu nguyện cho chúng sanh hạnh phúc với thành tựu Phật tánh !
    OM AH HUM !
  12. Mật Bình says:
    Mô Phật!
    Mật Bình hoan hỷ, tán thán thiện hạnh của Đạo huynh Mật Diệu Hằng và không khỏi ngưỡng mộ bút lực sắc sảo của Huynh về bài viết” Thực nghĩa – BIỆN CHỨNG TÂM LINH”.
    Qua những phân tích trên cơ sở luận chứng, luận cứ rõ ràng của huynh cho thấy rằng, Phật giáo nói chung và Yoga Tây Tạng hay còn gọi là Mật tông Tây Tạng nói riêng là khoa học biện chứng tâm linh trên hành trình giác ngộ. Hệ thống giáo lý cũng như thực hành của Yoga Tây Tạng theo quy trình khoa học.
    Nhưng khoa học biện chứng tâm linh này vượt xa khoa học thế gian bình thường, nên kiến thức siêu phàm của Phật-giáo bắt đầu ở chỗ kết thúc của khoa học”.
    “Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng mở ra một chân trời mới về khoa học biện chứng tâm linh nhằm khai thác và phát huy nguồn tài nguyên trí tuệ của con người bằng các phương pháp thực hành lớp lang trình tự, phù hợp với tính dân tộc, tính thời đại, tính quốc độ và đặc biệt phù hợp với từng hoàn cảnh của học trò. Yoga Tây Tạng trở thành chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cổng bước vào đời sống khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và tâm linh, giúp con người đoạn trừ phiền não, thấu triệt chân lý tối thượng và đạt được niềm hạnh phúc miên viễn với mùa xuân chánh pháp.”
    Cảm ơn Huynh với bài viết hay và nhiều lợi lạc.
    Chúc Huynh và gia đình luôn tinh tấn thành tựu mọi ước nguyện chính đáng.
    Cầu cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Mani Padme Hum!
  13. THANHTHUY says:
    Thua Thay
    con doc xong bai r0i ah .con cau mong cat ca chung sanh thanh tuu hanh phuc phat tanh .om ah hum
  14. Mật Mạnh Hùng says:
    Mô phật!
    Đệ đã đọc bài viết của Đạo huynh Mật Diệu Hằng. Qua bài viết của Đạo huynh đệ thấy rằng đạo Phật là một môn khoa học tâm linh mang tính biện chứng qua việc “văn tư tu trong Yoga Tây Tạng; khởi đầu bằng quá trình nghe, đọc giáo lý về Yoga Tây Tạng là sự hợp nhất thân ngữ tâm, về ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và tánh không, mang lại cho con người cuộc sống khỏe mạnh, an vui; sau đó nghiên tầm, đào sâu nghiên cứu, khảo sát và tìm ra những phương pháp, những cách tu tập phù hợp với hoàn cảnh bản thân, với môi trường, phù hợp với tính quốc độ, tính dân tộc, tính thời đại. Và cuối cùng là áp dụng các phương pháp thực hành cụ thể như 16 động tác bồ đề tâm, hành thiền trong không gian tĩnh và động. Khi thực hành một thời gian, hành giả sẽ có được kết quả tốt đẹp về thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt là tâm linh”. Cám ơn bài viết đầy ý nghĩa của Đạo huynh Mật Diệu Hằng.
    Con cầu nguyện cho Thầy Cô trụ thế lâu dài vì lợi lạc chúng sanh.
    Cầu nguyện Đạo huynh Mật Diệu Hằng hanh thông thế sự và tinh tấn tu tập.
    Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Ah Hum.
  15. Mật Hồng Vân says:
    Mô Phật.
    Pháp đệ vô cùng hoan hỉ và tán thán thiện hạnh của Đạo huynh Mật Diệu Hằng. Cảm ơn huynh đã có bài viết thật ý nghĩa và nhiều lợi lạc. Thuyết phục người đọc bằng lối viết sâu sắc, để chứng minh những luận điểm, huynh đã đưa ra những luận chứng, luận cứ rõ rằng cụ thể và vô cùng sắc bén.Qua đó giúp đệ và các huynh đệ kim cang cùng nhiều những bạn đọc hữu duyên khác hiểu được thực nghĩa của ” Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng” là như thế nào. Huynh đã lý giải sự liên kết chặt chẽ giữa Phật giáo và khoa học, bài viết của huynh cũng đã chỉ ra rằng “đạo Phật trở thành một môn khoa học biện chứng tâm linh mang tính chất thực nghiệm, chứ không phải là một tôn giáo mê tín dị đoan, tin mù quáng vào thần thánh.”. Dựa trên nền tảng là sự liên kết giữa khoa học và Phật giáo đó ” Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành yoga Tây Tạng” ra đời và được dẫn dắt bởi vị Thầy trí huệ. Họat động theo sự hợp nhất của thân ngữ tâm và ba yếu tính giác ngộ là xả ly, bồ đề tâm và tánh không. ” Thầy đã tổng hợp, đúc kết lại các bài thực hành Yoga Tây Tạng cho học trò, nhằm mang lại sức khỏe cộng đồng về thể chất, tinh thần cũng như tâm linh, giúp học trò có được cuộc sống lành mạnh với thể trạng tốt và tự bản thân khám phá, khai thác nguồn tài nguyên trí tuệ để được “an lạc đời này, cực lạc đời sau”. Cụ thể là qua 16 động tác phát bồ đề tâm trong sinh hoạt thường ngày, thiền động đọc thần chú Om Mani Padme Hum theo bước chân và hơi thở. Những động tác đơn giản mà vô cùng vi diệu.
    Cầu nguyện cho trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thực hành yoga Tây Tạng ngày càng phát triển mạnh mẽ, giương buồm lớn không nhưng ở trong nước mà còn ở ngoài nước nữa.
    Cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của vị Thầy tâm linh Thinley Nguyên Thành, cầu nguyện cho sự nghiệp giáo hóa chúng sanh của ngài sớm được viên mãn.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu trạng thái tuyệt đối.
    Om Mani Padme Hum.
  16. Mật Lễ says:
    Mô Phật!
    Kính bạch Thầy, con đã đọc bài này rồi. Con hoan hỷ và tán thán bài viết sâu sắc của Đạo huynh Mật Diệu Hằng qua bài ” thực nghĩa về BIỆN CHỨNG TÂM LINH”.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh!
    Om Ah Hum!
  17. Mật Phước says:
    Mô Phật
    Pháp đệ hoan hỷ với bài chia sẽ sâu sắc “Thực nghĩa về biện chứng tâm linh” của Đạo huynh Mật Diệu Hằng. Qua đó đệ được hiểu thêm về sự nghiên cứu và thực nghiệm của các nhà khoa học khẳng định sự khắn khích, tương quan giữa khoa học và Đạo Phật, nhưng sự chấm dứt của khoa học là sự bắt đầu của Đạo Phật. Các nhà khoa học cũng phân định, Đạo Phật là tự giác, giác ngộ, giác tha, là chân lý cao thượng. Chứ không phải đơn thuần chỉ là Phật giáo truyền thống chỉ để tạo ra danh lợi thế tục mà bao người lầm tưởng.
    Con cầu nguyện sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy, Cô.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.
    Om Ah Hum.
  18. Mật Hảo says:
    Pháp đệ hoan hỷ tán thán thiện hạnh của huynh Mật Diệu Hằng qua bài viết thật sâu sắc “thực nghĩa về biện chứng tâm linh”.
    cầu mong chúng sanh thấm đẫm hồng ân Tam Bảo
    om ah hum
  19. Mật Mai says:
    Mô Phật!
    Pháp đệ hoan hỷ và xin tán thán thiện hạnh của Đạo huynh Mật Diệu Hăng đã có một bài viết thật là sâu sắc.
    Cầu mong tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của phật tánh.Om Ah HUm!
  20. Mây Trắng says:
    Con đã đọc bài này ạ
  21. Mật Cẩm Hồng (Mật Cẩm Hùng) says:
    Kính Bạch Thầy.

    Con đã đọc song bài này rồi ạ.

     

    Om mani padme Hum.

     

  22. MẬT GIÁC ĐỨC says:
    Con thưa Thầy Cô
    Con đã đọc xong bài này rồi ạ
    Con cầu nguyện sức khỏe sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc của chúng sanh
    Con cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu phật tánh hạnh phúc
    Om mani padmehum
  23. Mật Diệu Linh says:

    Kính bạc Thầy .

    con đã đọc xong bài viết Thư Hà Nội :”THỰC NGHĨA VỀ BIỆN TRỨNG TÂM LINH” của Đạo huynh Mật Diệu Hằng rồi thưa thầy.

    Mô Phật.

    pháp đệ hoan hỷ và tán thán thiện hạnh , khi đọc được bài viết của Đạo huynh Mật Diệu Hằng, tuy đệ chưa hiểu hết được lý lẽ trong bài viết, nhưng đệ cảm ơn huynh với những dẫn chứng cụ thể đã khẳng định sự gắn kết khăng khít giữa đạo Phật và khoa học ,từ những điều trên đệ nhận thức được đạo Phật không phải là một tôn giáo ,là một môn khoa học biện chứng tâm linh mang tính chất thực nghiệm .đệ cảm ơn bài viết ý nghĩa và lợi lạc của huynh.

    con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy cô vì lợi lạc của mọi chúng sanh.

    cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh.

    Om mani padme hum.

     

     

  24. Mật Tấn Khải says:

    Kính bạch Thầy!
    Con đã đọc bài viết thư Hà nội. “Thực Nghĩa Biện Chứng Tâm Linh” của Đạo huynh Mật Diệu Hằng rồi thưa Thầy.
    Con hoan hỷ tán thán thiện hạnh của Đạo huynh Mật Diệu Hằng với bài viết ‘Thực nghĩa biện chứng tâm linh ‘, bài viết thật ý nghĩa và nhiều lợi lạc.
    Con thành tâm cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy ,Cô vì lợi lạc của chúng sanh.
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.
    Om mani padme hum!

  25. Kính bạch Thầy
    Con đã đọc bài này rồi
    Con cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy Cô vì lợi lạc của chúng sanh
    Con nguyện cho tất cả chúng sanh được sống trong hồng ân Tam Bảo
    Om mani padme hum

  26. Vũ Hà Trang says:

    Kính bạch Thầy
    Con đã đọc bàu viết này rồi ah. Con cầu nguyện cho sức khỏe và trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh. Cầu cho chúng sanh luôn được bình an.
    Om mani padme hum

  27. Mật Diệu Hương says:
    Kính bạch Thầy! Con đã đọc bài “Thực nghĩa về biện chứng tâm linh” rồi ạ.
    Con cầu nguyện cho sức khoẻ và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chúng sanh!
    Con cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh!
  28. Mô phật!
    Pháp đệ hoan hỷ và xin tán thán thiện hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng đã có một bài viết rất ý nghĩa và lợi lạc!
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh!!

  29. Mật Quảng Lượng (Lê Tùng) says:

    Đệ hoan hỉ tán thán đạo hạnh của đạo huynh Mật Diệu Hằng!
    Cầu nguyện tất cả chúng sinh thành tựu hạnh phúc Phật tánh!
    Om Mani Pahme Hum!

  30. Mật Cẩm Hồng (Mật Cẩm Hùng) says:
    Kính  Bạch  Thầy

    Con   đọc  lại  bài  này  để  hiểu  thêm  ạ .

    Con  cầu  nguyện  cho  sức  khỏe  và  sự  trường  thọ  của  Thầy  Cô  vì  lợi  lạc  hạnh  phút  của  chúng  sanh  .

    Mật  cẩm  hồng  cầu  nguyện  cho  huynh  Mật  Diệu  Hằng  tin  tấn  vui  tu đời  đạo  song  hành  hanh  thông  thế  sự  .

    Cầu  nguyện  cho  tất  cả  chúng  sanh  được  thấm  đẫm  hồng  ân  tam  bão .

    Om  manipadme  Hum  .

  31. Đào tùng lâm says:
    Kính bạch Thầy..!!!
    Con là đào tùng lâm, con ở quảng ninh. Con đã đọc xong bài này rồi ạ.
    Con cầu nguyện cho sức khỏe và sự trường thọ của Thầy,Cô vì lợi lạc chúng sanh
    Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của phật tánh
  32. Đỗ Thị Thuỳ Linh says:
    Kính bạch thầy
    Con là đỗ thị Thuỳ linh ở hạ long quảng ninh. Con đã đọc bài ” thực nghĩa về biện chứng tâm linh rồi ạ ” . Con cảm ơn thầy, cảm ơn cô Mật Diệu Hằng ạ
  33. Vũ Thị Thu says:

    Kính bạch Thầy con là Mật Thuận Nguyên con đã đọc xong bài này rồi ạ. Cầu nguyện Thầy Cô sức khoẻ và trường thọ. Cầu nguyện chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

  34. Nguyễn Thị Nhật Hạ says:
    Kính Bạch Thầy

    Con là Mật Huyền Tâm

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ

    Con cầu nguyện sức khỏe và sự trường thọ của Thầy Cô vì lợi lạc chung sanh

    Om Mani Padme Hum

     

  35. Nguyễn Vân Anh says:
    Kính bạch Thầy!

    Con đã đọc bài viết này rồi ạ.

    Con cầu nguyện cho tất thảy chúng sanh thành tựu hạnh phúc Phật tánh.

    Om mani padme hum.

  36. Nguyễn Hải says:

    Con Mật Hùng Tâm đã đọc bài viết này, xin cảm ơn Thầy và Mật Diệu Hằng.

  37. Mật Giu Se says:
    Kính Bạch Thầy!

    Con đã đọc bài này rồi ạ

    Om mani padme hum!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status